vanban.org

Quyết định 89/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn T.

Chấp nhận yêu cầu của bà Vũ Hồng N được ly hôn với ông Nguyễn Văn T. Bà N được quyền tiếp tục nuôi 02 người con chung, gồm Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 20/10/2012 (giới tính: Nam) và Nguyễn Triệu V, sinh ngày 25/10/2014 (giới tính: Nam). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà N yêu cầu được ly hôn đối với ông T"
  • Tòa quyết gì? Xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 24-7-2018
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Xuân Niêm

2. Bà Lâm Thị Xài

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Phượng Kiều, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Thới Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Quân-Kiểm sát viên

Trong ngày 24 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 331/2018/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2018 về tranh chấp ly hôn.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Vũ Hồng N, sinh năm 1990 (có mặt)

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1984 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn là bà Vũ Hồng N trình bày:

Về hôn nhân: Bà N và ông T tìm hiểu và tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thới Bình, huyện Thới Bình vào ngày 10/01/2011.

Quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, hôn nhân không thể kéo dài. Vì vậy, bà N yêu cầu được ly hôn đối với ông T.

Về con chung: Có 02 người con chung, gồm Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 20/10/2012 (giới tính: Nam) và Nguyễn Triệu V, sinh ngày 25/10/2014 (giới tính: Nam). Khi ly hôn, bà N yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 người con và có yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi 01 người con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Bà N trình bày bổ sung: Vợ chồng sống ly thân khoảng 02 năm nay. Quá trình chung sống, hai người có hành vi bạo lực gia đình. Yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi người con tên Triệu V với mức cấp dưỡng theo pháp luật quy định. Thời điểm cấp dưỡng được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Phát biểu của Kiểm sát viên:

+ Phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng: Chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

+ Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 56, 81, 82, 83, 110 và 116 Luật hôn nhân và gia đình, xét xử vắng mặt đối với ông T; chấp nhận yêu cầu của bà N được ly hôn đối với ông T. Về con chung, giao 02 người con cho bà N nuôi. Ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi người con tên Triệu V với mức cấp dưỡng theo pháp luật quy định. Về nghĩa vụ nộp án phí: Đề nghị áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bà N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, ông T phải chịu án phí đối với nghĩa vụ cấp dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bị đơn là ông T được triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt ông T.

Phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự là đúng, phù hợp với quy định của tố tụng dân sự.

Bà N và ông T có đăng ký kết hôn theo quy định, nên được pháp luật công nhận là vợ chồng. Tuy ông T không có ý kiến, nhưng qua xác minh, xác định được 02 người đã sống ly thân khoảng 02 năm nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai người thường xuyên cự cãi, có hành vi bạo lực gia đình. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa hai người có mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Trên cơ sở ý kiến của Kiểm sát viên, chấp nhận yêu cầu của bà N được ly hôn đối với ông T.

Các đương sự có 02 người con chung chưa đủ 07 tuổi hiện do bà N nuôi dạy. Bà N có yêu cầu được nuôi 02 người con chung trong khi phía ông T không có ý kiến, nên chấp nhận yêu cầu của bà N được nuôi 02 người con chung.

Bà N có yêu cầu ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 01 người con chung được chấp nhận. Buộc ông T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con tên Triệu V với mức cấp dưỡng hàng tháng bằng ½ tháng lương tối thiểu hiện hành là 695.000 đồng (sáu trăm chín mươi lăm ngàn đồng) cho đến khi cháu Triệu V đủ 18 tuổi. Thời điểm cấp dưỡng được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trường hợp chậm thanh toán còn phải chịu thêm phần lãi suất theo quy định.

Ông T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Các đương sự không có tài sản chung và nợ chung, nên không xem xét.

Bà N là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Phần bà N tạm ứng án phí được khấu trừ. Ông T phải chịu án phí đối với nghĩa vụ cấp dưỡng.

Tại phiên tòa: Bà N có mặt, nên thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án; ông T vắng mặt, nên thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 147, khoản 3 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 điều 56, các điều 81 và 82 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn T.

2. Chấp nhận yêu cầu của bà Vũ Hồng N được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.

3. Bà N được quyền tiếp tục nuôi 02 người con chung, gồm Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 20/10/2012 (giới tính: Nam) và Nguyễn Triệu V, sinh ngày 25/10/2014 (giới tính: Nam).

4. Ông T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con tên Triệu V với mức cấp dưỡng hàng tháng bằng ½ tháng lương tối thiểu hiện hành là 695.000 đồng (sáu trăm chín mươi lăm ngàn đồng) cho đến khi cháu Triệu V đủ 18 tuổi. Thời điểm cấp dưỡng được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

5. Kể từ ngày bà N có đơn yêu cầu thi hành án. Trường hợp ông T không chịu thanh toán khoản tiền cấp dưỡng nuôi con, thì hàng tháng, ông T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

6. Ông T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

7. Bà N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Phần bà N nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005480 ngày 15/5/2018 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình phát hành được khấu trừ.

8. Ông T phải chịu 300.000 đồng án phí đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

9. Bà N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

10. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ