vanban.org

Quyết định 88/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Hữu Đ tại Cơ sở cai nghiện ma túy P.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày 15/12/2020. Trong thời gian chấp hành cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan biết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hữu Đ"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Hữu Đ tại Cơ sở cai nghiện ma túy P.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 10 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 88/QĐ-TAThành phố Thủ Đức, ngày 12 tháng 3 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa

vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Lệ Thủy

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 12 tháng 3 năm 2021, tại Cơ sở xã hội Thanh Thiếu Niên 2 - Thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ ấp 3, xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh; Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 94/2021/QĐ-TA ngày 08/3/2021 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Hữu Đ

Giới tính: Nam

Sinh năm: 1985

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Trình độ học vấn: 9/12

Quê quán: Quảng Ngãi

Hộ khẩu thường trú: Đội 5, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi

Chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định.

Nghề nghiệp: Thợ điện nước

Con ông Nguyễn Khắc G và con bà Nguyễn Thị Kim T

(Ông Nguyễn Hữu Đ có mặt tại phiên họp)

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Đức: Ông Lý Hồ Nhựt Hoàng – Chức vụ: Chuyên viên

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên họp: Ông Võ Cao Hùng – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Vào lúc 11 giờ 00 phút, ngày 15/12/2020, Công an phường B, quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh nghi vấn ông Nguyễn Hữu Đ có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy nên đã phối hợp với Trạm y tế phường B xét nghiệm nhanh về ma túy đối với ông Nguyễn Hữu Đ. Kết quả xét nghiệm, ông Nguyễn Hữu Đ dương tính với chất ma túy nên Công an phường B đã lập biên bản vi phạm hành chính để xử lý theo quy định pháp luật.

Ngày 15/12/2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B, quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức) ban hành Quyết định số 975/QĐ-UBND đưa ông Nguyễn Hữu Đ vào Cơ sở xã hội Thanh Thiếu Niên 2 để quản lý cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 02/3/2021 Phòng Lao động- Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Đức có văn bản số 111/LĐTB đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Hữu Đ với thời gian đề nghị cai nghiện bắt buộc từ 18 tháng đến 21 tháng.

Tại phiên họp:

Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Đức vẫn giữ nguyên ý kiến đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Hữu Đ với thời gian từ 18 tháng đến 21 tháng vì nghiện ma túy và không có nơi cư trú ổn định.

Ông Nguyễn Hữu Đ thừa nhận có sử dụng ma túy, loại ma túy mà ông sử dụng là ma túy đá. Về nơi cư trú thì ông đăng ký thường trú tại đội 5, H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi và không có nơi cư trú ổn định. Lần cuối ông sử dụng ma túy là ngày 14/12/2020. Ngày 15/12/2020 bị Công an phường B, quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức) phát hiện việc sử dụng ma túy của ông nên tạm giữ để xử lý. Ông đồng ý đi cai nghiện ma túy.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, về tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Tòa án, thẩm phán được phân công giải quyết việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Hữu Đ đã thực hiện đúng về thụ lý, thông báo thụ lý vụ việc, quyết định mở phiên họp và tại phiên họp đã thực hiện đúng trình tự thủ tục qui định tại Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014. Đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, có cơ sở xác định:

Ông Nguyễn Hữu Đ đã có hành vi vi phạm hành chính về việc sử dụng trái phép chất ma túy, đã bị Công an phường B, quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện vào ngày 15/12/2020. Căn cứ vào Phiếu trả lời kết quả về việc xác định người nghiện ma túy do Cơ sở xã hội Thanh Thiếu niên 2 thuộc Sở Lao động- Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 19/12/2020 xác định ông Nguyễn Hữu Đ nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng Methamphetamine, chất dạng Amphetamine (ATS). Ông Nguyễn Hữu Đ thừa nhận có sử dụng ma túy, loại ma túy mà ông sử dụng là ma túy đá. Do đó, có cơ sở xác định ông Nguyễn Hữu Đ nghiện ma túy.

Theo kết quả xác minh của Công an xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi xác định ông Nguyễn Hữu Đ có hộ khẩu thường trú tại địa phương, đã bỏ địa phương đi từ năm 2015. Như vậy, có căn cứ xác định ông Nguyễn Hữu Đ không có nơi cư trú ổn định.

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Hữu Đ đã được cơ quan chức năng thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định tại các Điều 103; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và khoản 2 Điều 3, Điều 4, khoản 1 Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11 và Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Về ý kiến của người đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Hữu Đ là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy dẫn đến nghiện ma túy của ông Nguyễn Hữu Đ là một tệ nạn xã hội, không những trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân, gây thiệt hại vật chất, tinh thần của họ, mà còn là một hệ lụy mà cộng đồng và xã hội phải gánh chịu, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác.

Tuy nhiên, trong quá trình bị tạm giữ và tại phiên họp hôm nay ông Nguyễn Hữu Đ có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên cần giảm một phần thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ Điều 95, 96, 105 và Điều 106 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Căn cứ khoản 2 Điều 3; Điều 4; khoản 1 Điều 8; Điều 9; Điều 10; Điều 11; Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Căn cứ Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Căn cứ Điều 9, Điều 20, Điều 22, Điều 23, Điều 30, Điều 31, Điều 32 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/ 01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Hữu Đ tại Cơ sở cai nghiện ma túy P.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày 15/12/2020.

Trong thời gian chấp hành cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan biết.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị: Ông Nguyễn Hữu Đ có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Đức có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Cơ sở cai nghiện ma túy P (Trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước).

Cỡ chữ