- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "YÊU CẦU TUYÊN BỐ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÔ HIỆU"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Ngô Thị N;
- Căn cứ chính? Điều 49 Bộ luật Lao động; Điều 30 Bộ luật Lao động; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 88/2025/QĐST-VDS | Thành phố Thủ Đức, ngày 10 tháng 4 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Võ Thị Kim Trang
Thư ký phiên họp: Bà Trương Thị Giang, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Trịnh Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 10/4/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 356/2024/TLST-VDS ngày 19/12/2024 về việc “Tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số 356/2025/QĐ-MPH ngày 17/3/2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
1. Người yêu cầu: Bà Ngô Thị N, sinh năm 1987
Địa chỉ thường trú: Ấp Tân P, xã Phong H, huyện Lai Vung, tỉnh T.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2.1. Công ty Cổ phần Thiết bị Giáo dục MĐ
Trụ sở: Số 373A đường P, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ: Số 40 Đường số Z, Khu phố L, phường X, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.2. Bà Ngô Thị Ngọc H, sinh năm 1990
Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện P, tỉnh An Giang.
- Bà Ngô Thị N, bà Ngô Thị Ngọc H; Công ty Cổ phần Thiết bị Giáo dục MĐ có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
* Theo đơn yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, và lời trình bày của bà Ngô Thị N (gọi tắt là bà N) thì:
Bà và bà Ngô Thị Ngọc H là cô cháu ruột, vào thời điểm tháng 09/2008 đến tháng 08/2009, vì không hiểu biết quy định của pháp luật và mong muốn tìm kiếm việc làm nên bà đã cho bà H mượn hồ sơ cá nhân chứng minh nhân dân để xin việc tại Công ty Cổ phần Thiết bị Giáo dục MĐ. Theo đó, bà H ký hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần Thiết bị Giáo dục MĐ và tham gia bảo hiểm xã hội trong thời gian từ 09/2008 đến tháng 08/2009 và đóng bảo hiểm tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Thủ Đức. Như vậy, việc cho bà H sử dụng hồ sơ để ký hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần Thiết bị Giáo dục MĐ là vi phạm quy định của Bộ Luật Lao động, làm cho bà không thể hoàn thiện hồ sơ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội một lần nên bà yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động ký giữa bà H (thông tin tin cá nhân của bà N) và Công ty Cổ phần Thiết bị Giáo dục MĐ thời gian từ 09/2008 đến tháng 08/2009 vô hiệu, xác định không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu, ngoài ra không có yêu cầu gì khác.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ bà Ngô Thị Ngọc H (gọi tắt là bà H) trình bày:
Từ tháng 09/2008 đến tháng 08/2009, do kinh tế khó khăn nên bà có mượn chứng minh nhân dân của bà Ngô Thị N để ký kết hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần Thiết bị Giáo dục MĐ và tham gia bảo hiểm xã hội với tên Ngô Thị N. Về thời hạn hợp đồng lao động bà H không nhớ rõ, chỉ nhớ vị trí việc làm của bà là làm việc tại khâu bút chì sáp, mức lương khoảng 3.000.000 đồng/tháng. Bà H làm việc cho Công ty Cổ phần Thiết bị Giáo dục MĐ đến tháng 8/2009 thì nghỉ việc và làm tự do cho đến nay. Trong khoảng thời gian này, bà N đang làm việc tại Công ty TNHH PVM (Việt Nam). Khi nghỉ việc tại Công ty Cổ phần Thiết bị Giáo dục MĐ, bà N chưa được chốt sổ bảo hiểm xã hội, sổ bảo hiểm xã hội mang tên Ngô Thị N và hợp đồng lao động ký kết với Công ty Cổ phần Thiết bị Giáo dục MĐ, bà H không giữ. Nay bà H thống nhất với yêu cầu của bà N, xác định không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu, ngoài ra không có yêu cầu gì khác.
Tại phiên họp
- Bà Ngô Thị N, bà Ngô Thị Ngọc H; Công ty Cổ phần Thiết bị Giáo dục MĐ có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Ngoài việc vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án từ khi thụ lý cho đến khi mở phiên họp đúng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong vụ án, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Ngô Thị N, tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa người lao động Ngô Thị N và Công ty Cổ phần Thiết bị Giáo dục MĐ trong giai đoạn từ tháng 09/2008 đến tháng 8/2009 vô hiệu do không đúng người lao động tham gia ký kết hợp đồng lao động, vi phạm nguyên tắc trung thực và nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động được quy định tại Điều 15, 16 Bộ luật lao động năm 2019. Về hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu các đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
I. Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Hợp đồng lao động được giao kết và thực hiện tại thành phố Thủ Đức. Căn cứ vào khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người yêu cầu bà N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà H; Công ty Cổ phần Thiết bị Giáo dục MĐ có đơn xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt các đương sự.
II. Về nội dung:
- Xét yêu cầu của bà Ngô Thị N: Căn cứ vào lời khai của đương sự; văn bản số 864/BHXH-TST ngày 11/03/2025 của Bảo hiểm xã hội thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện, bà Ngô Thị N, sinh năm: 1987 đã cùng lúc ký hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội tại 02 doanh nghiệp là Công ty Cổ phần Thiết bị Giáo dục MĐ và Công ty TNHH PVM (Việt Nam) với 02 số sổ bảo hiểm xã hội khác nhau, cụ thể:
- Mã số bảo hiểm xã hội 0206344791 có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty Cổ phần Thiết bị Giáo dục MĐ từ tháng 10/2006 đến tháng 08/2009.
- Mã số bảo hiểm xã hội 7408261151 có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH PVM (Việt Nam) từ tháng 09/2008 đến tháng 08/2009.
Như vậy, trong cùng khoảng thời gian từ tháng 09/2008 đến tháng 08/2009 thì thông tin bà Ngô Thị N cùng lúc làm việc tại 02 công ty Công ty Cổ phần Thiết bị Giáo dục MĐ và Công ty TNHH PVM (Việt Nam); việc bà H ký hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần Thiết bị Giáo dục MĐ nhưng với tên Ngô Thị N và các thông tin định danh cá nhân của bà N trên hợp đồng là không đúng chủ thể người lao động trực tiếp ký kết hợp đồng với người sử dụng lao động là vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 4 Điều 30 Bộ luật Lao động năm 1994 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2002, 2006, 2007). Bà H cung cấp thông tin sai đã vi phạm nguyên tắc trung thực khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Bộ luật lao động năm 2019 và nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 Bộ luật Lao động năm 2019. Vì vậy, yêu cầu của bà Ngô Thị N có cơ sở nên được chấp nhận.
- Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Ngô Thị N phải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 4; khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều 39; Điều 149; khoản 2 Điều 366; Điều 367; Điều 369; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 30 Bộ luật Lao động năm 1994 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002, năm 2006, năm 2007);
Căn cứ khoản 1 Điều 15; khoản 2 Điều 16; điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 49; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Lao động năm 2019;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014;
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Ngô Thị N;
- Tuyên bố hợp đồng lao động ký kết trong khoảng thời gian từ tháng 09/2008 đến tháng 08/2009 giữa bà Ngô Thị N với Công ty Cổ phần Thiết bị Giáo dục MĐ là vô hiệu.
- Bà Ngô Thị N được quyền liên hệ Cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để thực hiện việc điều chỉnh thông tin quá trình đóng bảo hiểm xã hội và nhận tiền bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật.
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự:
- Bà Ngô Thị N phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0068128 ngày 18/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Ngô Thị N đã nộp đủ lệ phí.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày quyết định được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Tòa án tuyên quyết định.
4. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - VKSND TP.Thủ Đức; - Chi cục THA DS TP.Thủ Đức; - Bảo hiểm xã hội TP. Thủ Đức; - Bảo hiểm xã hội TP.HCM; - Các đương sự; - Lưu VP, hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Võ Thị Kim Trang |