vanban.org

Quyết định 88/2023/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 13/11/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nghiêm Thị Hồng L và anh Nguyễn Văn K.

Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Nghiêm Thị Hồng L và anh Nguyễn Văn K, giao con chung Nguyễn Chí A, sinh ngày 13/02/2010 và cháu Nguyễn Châu A1, sinh ngày 18/10/2016 cho chị L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con thành niên (tròn 18 tuổi), không ai phải cấp dưỡ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nghiêm Thị Hồng L - Nguyễn Văn K"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nghiêm Thị Hồng L và anh Nguyễn Văn K.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_____________
Số: 88/2023/QĐST-HNGĐ
Hải Dương, ngày 13 tháng 11 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận về nuôi con”.

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Xuân Trường.

Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thị Huyền - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Bà Phan Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 429/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2023, về việc: “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận về nuôi con”, theo quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 397/2023/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

* Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

+ Chị Nghiêm Thị Hồng L, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Số A N, phường P, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

+ Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Số A N, phường P, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

Người được anh K ủy quyền về việc giao, nhận văn bản: Chị Nghiêm Thị Hồng L, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số A N, phường P, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

(Các đương sự vắng mặt, có đơn và có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn; Bản tự khai; Giấy ủy quyền; Đơn đề nghị giải quyết vắng mặt của chị Nghiêm Thị Hồng L và anh Nguyễn Văn K cùng các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nghiêm Thị Hồng L và anh Nguyễn Văn K được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Đ tại Liên bang N ngày 02/3/2009. Sau khi kết hôn vợ chồng vẫn làm ăn sinh sống tại Cộng hòa liên bang N đến năm 2019 thì cùng về nước. Vợ chồng tiếp tục chung sống đến năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, nên mỗi lần nói chuyện lại xảy ra cãi vã, xô xát. Hai bên gia đình đã khuyên bảo để tháo gỡ vướng mắc nhưng không có kết quả, không có khả năng hàn gắn và đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị L và anh K cùng xác định tình cảm vợ chồng không còn và thống nhất đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Chí A, sinh ngày 13/02/2010 và cháu Nguyễn Châu A1, sinh ngày 18/10/2016, hiện các con đang ở với chị L. Chị L và anh K cùng thống nhất giao các con chung cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con thành niên (tròn 18 tuổi), chị L tự nguyện không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị L, anh K cùng xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị L tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

Anh Nguyễn Văn K hiện đang bận công việc nên anh ủy quyền cho chị Nghiêm Thị Hồng L thay anh giao, nhận các tài liệu tại Tòa án. Chị L nhất trí nhận ủy quyền của anh K. Sau khi nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, chị L đã thông báo cho anh K biết; anh K vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.

Do bận công việc nên chị Nghiêm Thị Hồng L và anh Nguyễn Văn K không trực tiếp tham gia tố tụng tại Tòa án được anh, chị đều có đơn và có quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Con chung của chị L, anh K là cháu Nguyễn Chí A và cháu Nguyễn Châu A1 có nguyện vọng được ở với chị L.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương có quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ việc: Căn cứ Điều 55, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Tòa án công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nghiêm Thị Hồng L và anh Nguyễn Văn K. Giao các con chung Nguyễn Chí A, sinh ngày 13/02/2010 và cháu Nguyễn Châu A1, sinh ngày 18/10/2016 cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con thành niên, chấp nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Chị L tự nguyện chịu cả lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, quan điểm của các đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:

. Về tố tụng: Chị Nghiêm Thị Hồng L và anh Nguyễn Văn K có đơn đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Chị L và anh K hiện đang sinh sống tại Việt Nam. Tuy nhiên, thời gian lao động, sinh sống tại Cộng hòa liên bang N1 anh chị thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Đ tại Liên bang N. Do vậy, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Quá trình giải quyết chị L và anh K đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Anh K đi làm ăn xa không tham gia tố tụng nhưng đã gửi đơn yêu cầu ly hôn, bản tự khai, đơn xin vắng mặt và giấy ủy quyền đến Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Các tài liệu này đã được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H chứng thực. Do vậy, có đủ cơ sở khẳng định nội dung trong các văn bản mà anh K gửi về đúng là ý chí, nguyện vọng của anh.

Do các đương sự đều đề nghị xin được vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt các đương sự.

. Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nghiêm Thị Hồng L và anh Nguyễn Văn K được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Đ tại Liên bang N ngày 02/3/2009 là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống tại Nga đến năm 2019 thì cùng về nước sinh sống đến năm 2021 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, nên mỗi lần nói chuyện hai vợ chồng thường xảy ra cãi vã. Hai bên gia đình cũng gọi điện khuyên bảo để tháo gỡ vướng mắc nhưng không có kết quả. Vợ chồng sống ly thân từ 2022 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai và cũng không có khả năng đoàn tụ được. Nay chị L và anh K đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nên thống nhất đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu thuận tình ly hôn của chị L và anh K.

Về con chung: Chị L và anh K có 02 con chung là Nguyễn Chí A, sinh ngày 13/02/2010 và cháu Nguyễn Châu A1, sinh ngày 18/10/2016. Anh, chị thỏa thuận thống nhất giao cả hai con chung cho chị L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con thành niên (tròn 18 tuổi), chị L tự nguyện không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Con chung Nguyễn Chí A và Nguyễn Châu A1 có nguyện vọng được ở với chị L. Xét thấy, thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với thực tế, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị L, anh K cùng xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của chị L tự nguyện chịu cả lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 55, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, Điều 149, Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nghiêm Thị Hồng L và anh Nguyễn Văn K.

2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Nghiêm Thị Hồng L và anh Nguyễn Văn K, giao con chung Nguyễn Chí A, sinh ngày 13/02/2010 và cháu Nguyễn Châu A1, sinh ngày 18/10/2016 cho chị L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con thành niên (tròn 18 tuổi), không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

2. Về lệ phí: Chị Nghiêm Thị Hồng L tự nguyện chịu cả 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ theo biên lai thu số AA/2023/0001172 ngày 10/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị L đã nộp đủ lệ phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Cỡ chữ