- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Văn Đ- Nguyễn Kim P"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ vợ chồng: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Trần Văn Đ và chị Nguyễn Kim P.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số:88/2022/QĐST- HNGĐ |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Thúy Hà – Cán bộ Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Ông Nguyễn Văn Tưởng– Kiểm sát viên, tham gia phiên họp.
Ngày 14 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 283/2022/TLST-HNGĐ ngày 11/10/2022, về việc‘‘Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con". Theo Quyết Đ mở phiên họp số 298/2022/QĐMPH-HNGĐ ngày 21/10/2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
* Người yêu cầu:
1. Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Thôn An C, xã Đức X, huyện Gia L, tỉnh Hải Dương.
2. Chị Nguyễn Kim P, sinh năm 1987.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: thôn An C, xã Đức X, huyện Gia L, tỉnh Hải Dương.
Nơi cư trú hiện nay: Đài Loan
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Phạm Thị L, sinh năm 1960.
Địa chỉ: Thôn An C, xã Đức X, huyện Gia L, tỉnh Hải Dương.
(Anh Đ, chị P, bà L đều có quan điểm giải quyết vắng mặt)
1
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai của anh Trần Văn Đ, đơn xin ly hôn, bản tự khai, đơn xin vắng mặt, giấy ủy quyền của chị Nguyễn Kim P (được xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Đức X, huyện Gia L, tỉnh Hải Dương) cùng các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện :
Về quan hệ hôn nhân: Anh Đ và chị P tự do tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đức X, huyện Gia L, tỉnh Hải Dương ngày 24 tháng 12 năm 2008. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm dẫn đến mỗi người sống một nơi. Anh Đ và chị P đã được gia đình hai bên động viên, hòa giải nên cả hai đã quay lại sống cùng nhau được một thời gian, vợ chồng sinh thêm cháu thứ hai thì tiếp tục phát sinh mâu thuẫn. Sau đó chị P đi lao động ở nước ngoài còn anh Đ ở Việt Nam, vợ chồng sống ly thân không quan tâm đến nhau. Nay anh Đ và chị P đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết cho anh chị được ly hôn.
Về con chung : Chị P, anh Đ có 2 con chung là Trần Duy Ph, sinh ngày 27/07/2009 và cháu Trần Vy O, sinh ngày 02/8/2017. Cháu Ph bị câm điếc bẩm sinh, hiện tại cháu đang học tập tại Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Hải Dương. Ly hôn hai bên thỏa thuận anh Đ nuôi cháu Ph, chị P nuôi cháu O. Trong thời gian chị P ở nước ngoài, chị ủy quyền cho mẹ đẻ là bà Phạm Thị L chăm sóc cháu O, anh Đ cũng đồng ý.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị P, anh Đ xác định không có, ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Đ tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.
Trước khi đi Đài Loan lao động, chị P đã ủy quyền cho anh Đ giao nhận văn bản tố tụng của Tòa án và ủy quyền cho bà Phạm Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Vy O. Anh Đ đồng ý nhận ủy quyền và xác Đ có trách nhiệm thông báo cho chị P biết. Bà L đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng cháu O trong thời gian chị P không ở Việt Nam.
Cháu Trần Duy Ph có nguyện vọng được ở với bố khi bố mẹ ly hôn.
2
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ việc: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Kim P và anh Trần Văn Đ đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của anh Đ và chị P. Về con chung: Chấp nhận sự thỏa thuận của chị P và anh Đ, giao cháu Trần Duy Ph, sinh ngày 27/07/2009 cho anh Đ nuôi dưỡng, giao cháu Trần Vy O, sinh ngày 02/8/2017cho chị P nuôi dưỡng. Hải bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Trong thời gian chị P ở nước ngoài, tạm giao cháu O cho bà Phạm Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Đ chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận Đ:
. Về tố tụng: Anh Trần Văn Đ có hộ khẩu thường trú Thôn An C, xã Đức X, huyện Gia L, tỉnh Hải Dương. Chị Nguyễn Kim P đang sinh sống làm việc tại Đài Loan nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Chị P ủy quyền cho bà Phạm Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Vy O nên Tòa án xác Đ bà L là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị P, anh Đ, bà L đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt, nên căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết Đ mở phiên họp vắng mặt các đương sự.
. Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Kim P và anh Trần Văn Đ được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đức X, huyện Gia L, tỉnh Hải Dương ngày 24 tháng 12 năm 2008, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Tuy nhiên vợ chồng chỉ sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Anh chị đã sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau. Nay anh Đ,
3
chị P đều xác định tình cảm không còn và cùng có đơn đề nghị Tòa án công nhân thuận tình ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn giữa anh Đ, chị P đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh chị.
Về con chung: Chị Nguyễn Kim P và anh Trần Văn Đ có hai con chung là Trần Duy Ph, sinh ngày 27/07/2009 và cháu Trần Vy O, sinh ngày 02/8/2017. Ly hôn, hai bên thỏa thuận chị P nuôi cháu O, anh Đ nuôi cháu Ph, Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Trong thời gian chị P không ở Việt Nam chị ủy quyền cho bà Phạm Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng cháu O, anh Đ cũng nhất trí. Xét thấy việc thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật, do vậy có căn cứ chấp nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh Trần Văn Đ và chị Nguyễn Kim P không đề nghị, nên Tòa án không xem xét giải quyết.
. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện của anh Trần Văn Đ chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 55, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ vợ chồng: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Trần Văn Đ và chị Nguyễn Kim P.
2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị P và anh Đ, giao cháu Trần Duy Ph, sinh ngày 27/07/2009 cho anh Đ chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao cháu Trần Vy O, sinh ngày 02/8/2017 cho chị P chăm sóc, nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Trong thời gian chị P không ở Việt Nam, tạm giao cháu O cho bà Phạm Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng.
Chị P, anh Đ được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
3.Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Trần Văn Đ tự nguyện chịu cả 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự, được đối trừ số
4
tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ anh Đ đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0001663 ngày 11 tháng 10 năm 2022 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Anh Đ đã nộp đủ lệ phí.
4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Các đương sự; - UBND xã Đức X - Cục THADS tỉnh Hải Dương; - Lưu hồ sơ. 5 | Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp ( Đã ký) Nguyễn Thị Thu Hiền |