- Tranh chấp gì? "Nguyễn Đức L"
- Tòa quyết gì? Cơ sở chấp hành thời gian cai nghiện bắt buộc: Cơ sở Cai nghiện ma túy P thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố H.
- Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 10 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 87/QĐ-TA | Thành phố Thủ Đức, ngày 21 tháng 01 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm:
1. Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Hà Thị Hoài .
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Mến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 21 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành phiên họp trực tuyến công khai giải quyết hồ sơ thụ lý số: 97/2025/XLVPHC ngày 16/01/2025, về việc “Áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” theo Quyết định mở phiên họp số 68/QĐ-TA ngày 16/01/2025, đối với:
Họ và tên: Nguyễn Đức L, sinh ngày: 27/4/1987; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 09/12. Hộ khẩu thường trú: số D B, khu phố B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện nay: số D B, khu phố B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Con ông Nguyễn Đức H và bà Nguyễn Thị C.
Tiền án: Không .
Tiền sự: 02 tiền sự.
Năm 2007 bị Công an phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh lập hồ sơ đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ngày 18/01/2024 bị Công an phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và lập hồ sơ quản lý theo Nghị định 105/2021/NĐ-CP.
Bị đưa vào Cơ sở cai nghiện ma túy Thanh Thiếu N 2 từ ngày 16/11/2024, (có mặt).
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đồng Văn C1 – Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T;
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Võ Cao Hùng – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Ngày 14/11/2024, Công an phường B, thành phố T lập Biên bản vi phạm hành chính đối với ông Nguyễn Đức L vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và tiến hành xác minh nơi cư trú của ông L. Tại bản tường trình ông L thừa nhận có sử dụng ma túy.
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố T trình bày: Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức ban hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Đức L tại Cơ sở cai nghiện ma túy P thuộc Sở Lao động , Thương binh và Xã hội Thành phố H, thời gian từ 21 đến 24 tháng.
Người bị đề nghị ông Nguyễn Đức L trình bày: Ông thừa nhận bản thân có sử dụng ma túy và đang bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy tại phường trong thời hạn 01 năm theo Quyết định số 44/QĐ - UBND ngày 05/02/2024. Nhưng từ thời điểm đó cho đến nay ông vẫn không bỏ được và tái sử dụng ma túy. Đồng thời, ông đang tham gia điều trị nghiện chất ma túy nhưng vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy nên đã bị chấm dứt điều trị nghiện từ ngày 15/11/2024. Ông xin xem xét giảm thời hạn đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để sớm quay trở lại cộng đồng chăm sóc gia đình, vợ con.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức: Quá trình thụ lý và mở phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã chấp hành đúng Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc đã được thẩm tra tại phiên họp; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên, Thẩm phán nhận định:
Về thời hiệu: Ông Nguyễn Đức L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị Công an phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh lập biên bản vi phạm hành chính vào ngày 14/11/2024. Đến ngày 21/01/2025, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức mở phiên họp xem xét đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông L là còn trong thời hiệu được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2020).
Về thẩm quyền xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Đức L là Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh có trụ sở tại thành phố T nên Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức có thẩm quyền xem xét giải quyết vụ việc theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Về tính pháp lý của hồ sơ đề nghị: Việc xác minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông L đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thời hạn theo quy định tại Điều 103, Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2020); Điều 40, Điều 41, Điều 42, Điều 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, đủ cơ sở pháp lý kết luận: Ngày 05/02/2024, Ủy ban nhân dân phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy số 44/QĐ-UBND đối với ông Nguyễn Đức L, thời hạn quản lý là 01 năm, nhưng ông L vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy nên khả năng tự cai nghiện của ông L là không có. Đồng thời, ông L đang tham gia điều trị nghiện chất ma túy nhưng ông L vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Do ông Lương vi P quy định về điều trị nghiện nên đã bị chấm dứt điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế từ ngày 15/11/2024. Ông Nguyễn Đức L là người đủ 18 tuổi, bị nghiện ma túy, đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, có nơi cư trú ổn định nhưng nhiều lần tái nghiện, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Do vậy, cần cắt cơn nghiện và cai nghiện ma túy cho ông L để ông L có điều kiện tái hòa nhập với cộng đồng, xã hội thì việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông L là cần thiết. Vì vậy, đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức về việc đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông L là phù hợp. Do đó, Tòa án căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Xét thấy, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của ông Nguyễn Đức L đã vi phạm các quy định về quản lý trật tự, an toàn xã hội, việc nghiện ma túy không những ảnh hưởng tới sức khỏe, gây thiệt hại về vật chất, tinh thần của bản thân mà còn là nguyên nhân của nhiều tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Do đó, cần xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong một thời gian thích hợp nhằm tạo điều kiện cho ông L được cai nghiện, chữa bệnh, học tập và tái hòa nhập cộng đồng trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Quá trình lập hồ sơ xử lý hành chính, ông L tự nguyện khai báo, thái độ thành khẩn. Do đó, cần xem xét đưa ông L đi cai nghiện bắt buộc thời gian phù hợp để đảm bảo cai nghiện ma túy thành công, trở về làm người có ích cho xã hội.
Vì các lẽ trên,
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 3, Điều 9, Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 104, Điều 105 và Điều 106 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020);
- Căn cứ Điều 27, Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021;
- Căn cứ Điều 3, khoản 2 Điều 10, Điều 20, Điều 21, Điều 23, Điều 24, Điều 31, Điều 32 và Điều 33 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Căn cứ Điều 40, Điều 41, Điều 42, Điều 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Đức L.
Cơ sở chấp hành thời gian cai nghiện bắt buộc: Cơ sở Cai nghiện ma túy P thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố H.
Điều 2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 21 (hai mươi mốt) tháng, kể từ ngày ông Nguyễn Đức L bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 16/11/2024).
Trong thời gian chấp hành cai nghiện bắt buộc, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan biết.
Điều 3. Ông Nguyễn Đức L có quyền khiếu nại, Trưởng phòng Lao động
- Thương binh và Xã hội thành phố T có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
Điều 4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
Điều 5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Công an thành phố T và Cơ sở Cai nghiện ma túy P có trách nhiệm thi hành quyết định này./.
| Nơi nhận: - VKSND, Công an TP.Thủ Đức; - Phòng LĐ-TB-XH TP. Thủ Đức; - Ông Nguyễn Đức Lương; - Cơ sở cai nghiện ma túy Thanh Thiếu Niên 2; - Cơ sở Cai nghiện ma túy Phú Đức; - UBND, Công an P. Bình Chiểu, TP. Thủ Đức; - Lưu: VP, Hồ sơ.. | THẨM PHÁN Hà Thị Hoài |