- Tranh chấp gì? "nguyễn thị A kiện UBND"
- Tòa quyết gì? Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 08/2023/QĐST ngày 15 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh H.
- Căn cứ chính? Điều 143 Luật Tố tụng hành chính; Điều 144 Luật Tố tụng hành chính; Điều 145 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 87/2024/QĐ-PT | Hà Nội, ngày 28 tháng 8 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phan Thị Vân Hương.
Các thẩm phán: Ông Võ Hồng Sơn;
Ông Hồ Sỹ Hưng.
Đại diện Viện Kiểm sát cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên họp: Ông Phạm Quốc Huy, Kiểm sát viên.
Thư ký phiên họp: Ông Phạm Thành Trung, Thư ký Tòa án.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 08/2023/QĐST ngày 15 tháng 12 năm 2023
Tòa án nhân dân tỉnh H đã căn cứ vào khoản 5 Điều 38, Điều Điều 143 và Điều 144 của Luật Tố tụng hành chính, Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giữa:
1. Người khởi kiện: Bà Bùi Thị T, sinh năm 1968.
Địa chỉ: Thị xã B, xã H, huyện K, tỉnh H.
2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân tỉnh H.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Phan Văn T1, sinh năm 1966.
Địa chỉ: Thị xã B, xã H, huyện K, tỉnh H.
3.2. Công ty TNHH T2.
Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện K, tỉnh H.
3.3. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H.
Tại đơn kháng cáo ngày 10 tháng 01 năm 2024, người khởi kiện là bà Bùi Thị T kháng cáo với lý do Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, không xem xét đánh giá đầy đủ tài liệu chứng cứ và bản chất của vụ án, không áp dụng đúng quy định của pháp luật.
XÉT THẤY:
Ngày 28/4/2023 bà Bùi Thị T có đơn khởi kiện vụ án hành chính yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 453846 (số vào sổ cấp GCN CT00819) do Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh H cấp ngày 18/10/2012 cho Công ty TNHH T2, thửa đất được cấp mang số số 138, diện tích 11.404 m2 thuộc tờ bản đồ địa chính số 05 xã H, huyện K, tỉnh H. Lý do khởi kiện, bà T cho rằng việc cấp GCNQSD không đúng pháp luật, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình bà. Tòa án nhân dân tỉnh H đã thụ lý vụ án hành chính theo đúng quy định.
Về thời hiệu khởi kiện, xét tài liệu hồ sơ các đương sự cung cấp đã thể hiện:
Thông báo số 97/TB-UBND ngày 13/03/2018 của UBND tỉnh H (về ý kiến kết luận của Phó Chủ tịch UBND tỉnh H tại cuộc họp giải quyết đơn tố cáo của bà Bùi Thị T) có nội dung “Đối với thửa đất số 138, diện tích 11.404 m2 thuộc tờ bản đồ địa chính số 05 xã H, huyện K hiện do Công ty TNHH T2 đang được UBND tỉnh H cho thuê tại Quyết định số 1013/QĐ-UBND ngày 27/6/2012 để thực hiện dự án "Cơ sở sản xuất, chế biển nấm và sản xuất tinh dầu cây dược liệu" và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 18/10/2012";
Tại biên bản lấy lời khai ngày 11/9/2023, bà Bùi Thị T khai: Sau khi nhận được Thông báo số 97/TB-UBND nêu trên, từ suốt năm 2018 đến năm 2021, gia đình bà đã có đơn khiếu nại (gửi đến các cấp chính quyền địa phương, đến T) nhưng không được giải quyết nên đến tháng 5/2023 bà có đơn khởi kiện gửi Tòa án nhân dân tỉnh H. Tuy từ năm 2018 khi gia đình bà biết Công ty T2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được giải quyết khiếu nại bằng văn bản Thông báo số: 97/TB-UBND ngày 13/03/2018 của UBND tỉnh H, nhưng đến nay mới có đơn khởi kiện đề nghị tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho Công ty TNHH T2 là do đã cấp chồng lấn lên diện tích 579,9 m2 gia đình bà đang quản lý sử dụng và gia đình bà đợi Xí nghiệp gạch ngói Long An đến thanh lý hợp đồng và thực hiện bồi thường, hỗ trợ cho gia đình bà về công sức tôn tạo, bảo vệ đất; nhưng từ đó đến nay Xí nghiệp L không có động thái gì nên bà mới khởi kiện ra Tòa án.
Tại văn bản số 3456/UBND-KT3 ngày 14/12/2023, UBND tỉnh H trình bày: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H đã chủ trì phối hợp với các cơ quan, đơn vị kiểm tra, rà soát hồ sơ và tài liệu liên quan đến khiếu nại đối với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty TNHH T2 và xác định kể từ năm 2019 đến thời điểm hiện nay không có tài liệu, chứng cứ, văn bản nào liên quan đến việc giải quyết khiếu nại đối với việc thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty TNHH T2 mà bà Bùi Thị T có đơn khiếu nại.
Với các chứng cứ tài liệu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xác định xác định thời điểm năm 2018 bà Bùi Thị T đã biết về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND tỉnh H cấp cho TNHH T2; nhưng đến ngày 12/5/2023, bà Bùi Thị T mới có đơn khởi kiện, là đã hết thời hiệu 01 năm theo quy định tại Điều 116 Luật tố tụng hành chính nên đã áp dụng Điều 143 và Điều 144, Điều 145 của Luật Tố tụng hành chính, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính - là đúng.
Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của Bà Bùi Thị T.
Căn cứ vào Điều 243 của Luật tố tụng hành chính,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 08/2023/QĐST ngày 15 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh H.
2. Án phí phúc thẩm: Bà Bùi Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm, được đối trừ số tiền tạm ứng đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0000101 ngày 23/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh H. 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh H; - TAND tỉnh H; - Cục THADSD tỉnh H; - Lưu TANDCC, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (đã ký) Phan Thị Vân Hương |