- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "/ Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 216/2021/TLST- HNGĐ, ngày 16/06/2021"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016:
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 369 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K THÀNH PHỐ HÀ NỘI ___________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 86/2021/QĐDS - ST Ngày: 25/9/2021 | K, ngày 25 tháng 9 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V /v “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
- Chủ tọa phiên họp: Ông Vũ Quang Long – Thẩm phán.
- Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K Qm gia phiên toà: Bà Vũ Thị Nhiên - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 09 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý 54/2021/TLST - VDS ngày 11/5/2021 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên giải quyết việc dân sự số 05/2021/QĐMPH-ST ngày 10 tháng 09 năm 2021, gồm những người Qm gia tố tụng sau đây.
- Người yêu cầu: Bà Phùng Thị M, sinh năm 1967; Địa chỉ: Số 20 ngách 24/31 đường Q, thị trấn V, K, Hà Nội. (Địa chỉ cũ theo hộ khẩu: Số 80, tổ 2, khối Đuống, thị trấn V, K, Hà Nội).
- Người bị yêu cầu: Bà Phùng Thị G, sinh năm 1972; Địa chỉ cư trú cuối cùng: Địa chỉ: Số 20 ngách 24/31 đường Q, thị trấn V, K, Hà Nội. (Địa chỉ cũ theo hộ khẩu: Số 80, tổ 2, khối Đuống, thị trấn V, K, Hà Nội).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1.Ông Phùng Văn B, sinh năm 1969; Trú tại: Số 21B ngách 24/31 đường Q, thị trấn V, K, Hà Nội.
2. Ông Phùng Xuân T, sinh năm 1974; Trú tại Số 20 ngách 24/31 đường Q, thị trấn V, K, Hà Nội.
3. Ông Phùng Văn T, sinh năm 1977; Trú tại: Số 20 ngách 24/31 đường Q, thị trấn V, K, Hà Nội.
4. Bà Phùng Thị Q, sinh năm 1980; Trú tại: Số 20 ngách 24/31 đường Q, thị trấn V, K, Hà Nội.
NỘI DUNG
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 06/5/2021, bà Phùng Thị M yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Phùng Thị G là đã chết. Bà Phùng Thị M trình bày: Em gái ruột của bà là Phùng Thị G, sinh năm 1972 đã bỏ nhà đi làm ăn từ năm 1988 nhưng không thấy trở về nhà. Bố ẹm bà là cụ Phùng Văn Diễn, sinh năm 1933 chết năm 1991 và cụ Nguyễn Thị Vân, sinh năm 1945, chết năm 2001. Bố mẹ sinh ra 6 người con, ngoài bà và em Phùng Thị G thì còn có ông Phùng Văn B, sinh năm 1969; Ông Phùng Xuân T, sinh năm 1974; Ông Phùng Văn T, sinh năm 1977; Bà Phùng Thị Q, sinh năm 1980. Nay chị em bà muốn chia di sản của bố mẹ để lại nhưng chưa làm được vì không có xác nhận của bà Phùng Thị G còn sống hay đã chết. Đã 33 năm kể từ năm 1988 đến nay gia đình bà không biết tin tức của bà G. Vậy bà đề nghị Tòa án tuyên bố bà Phùng Thị G, sinh năm 1972 đã chết để gia đình tôi hoàn tất các thủ tục hành chính của gia đình. Bà Phùng Thị M không yêu cầu Tòa án giải quyết việc liên quan đến tài sản của bà Phùng Thị G khi bị tuyên bố đã chết.
Bà Phùng Thị M đã có đơn đề nghị Tòa án ra Quyết định thông báo tìm kiếm bà Phùng Thị G trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật.
Ngày 18,19,20/5/2021, Báo Nhân dân đã đăng thông tin tìm kiếm bà Phùng Thị G. Vào hồi 17h30 ngày 20,21,22/5/2021 đài phát Qnh VOV đã phát tin tìm kiếm bà Phùng Thị G. Tòa án nhân dân huyện K đã đăng thông tin tìm kiếm bà Phùng Thị G trên cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân Tối Cao vào ngày 17/5/2021.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phùng Văn B, ông Phùng Văn T, ông Phùng Văn T, bà Phùng Thị Q cùng trình bày thống nhất với lời khai và yêu cầu của bà Phùng Thị M yêu cầu tuyên bố bà Phùng Thị G là đã chết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị Tòa án tuyên bố bà Phùng Thị G là đã chết kể từ ngày 01/01/1994.
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội nhận định:
Về tố tụng: Bà Phùng Thị G là người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết có nơi cư trú cuối cùng tại Số 20 ngách 24/31 đường Q, thị trấn V, K, Hà Nội (Địa chỉ cũ theo hộ khẩu: Số 80, tổ 2, khối Đuống, thị trấn V, K, Hà Nội) nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Phùng Thị M là chị ruột của bà Phùng Thị G nên bà Phùng Thị M là người có quyền yêu cầu tuyên bố bà Phùng Thị G là đã chết theo quy định tại Điều 391 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu của người yêu cầu: Bà Phùng Thị G, sinh năm 1972 là em ruột của bà Phùng Thị M (người yêu cầu) và đều là con của cụ Phùng Văn Diễn, sinh năm 1933 chết năm 1991và cụ Nguyễn Thị Vân, sinh năm 1945, chết năm 2001. Do kinh tế gia đình đông con, khó khăn nên năm 1988, bà G đã xin phép bố mẹ cho đi ra ngoài làm ăn xa nhưng từ đấy không thấy về nhà. Đã 33 năm kể từ khi bà G đi làm ăn, gia đình bà Phùng Thị M đã tìm kiếm, đăng tin trên báo tìm bà G nhưng không có tin tức gì. Như vậy, bà Phùng Thị G đã bỏ đi biệt tích khỏi nơi cư trú cuối cùng là Số 20 ngách 24/31 đường Q, thị trấn V, K, Hà Nội (Địa chỉ cũ theo hộ khẩu: Số 80, tổ 2, khối Đuống, thị trấn V, K, Hà Nội) từ năm 1988. Sau khi thụ lý vụ việc, Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm bà Phùng Thị G theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 392 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá thời hạn thông báo của Tòa án nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc bà G còn sống hay đã chết. Bà Phùng Thị G đã biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống. Vì vậy, cần chấp nhận đơn của bà Phùng Thị M về việc “Yêu cầu tuyên bố bà Phùng Thị G đã chết” là có căn cứ, phù hợp với quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 của Bộ luật dân sự.
Về thời điểm chết của bà Phùng Thị G: Thời điểm bà Phùng Thị G bỏ đi biệt tích gia đình bà M chỉ biết là vào năm 1988 nhưng không nhớ chính xác ngày, tháng. Do vậy, căn cứ Khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự ngày bà G có tin tức cuối cùng được xác định là ngày 01/01/1989. Căn cứ điểm d Điều 71 Bộ luật dân sự ngày chết của bà Phùng Thị G được xác định là ngày 01/01/1994.
Về hậu quả pháp lý của việc bà Phùng Thị G bị tuyên bố là đã chết: Khi quyết định của Tòa án tuyên bố bà Phùng Thị G đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ về tài sản của bà G được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của bà Phùng Thị G được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Về lệ phí Tòa án: Bà Phùng Thị M phải nộp lệ phí giải quyết việc dân sự nên theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 391, Điều 393 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm d Khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự 2015.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016:
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Phùng Thị M về việc tuyên bố bà Phùng Thị G là đã chết.
2. Tuyên bố: Bà Phùng Thị G, sinh năm 1972; Nơi cư trú cuối cùng: Số 20 ngách 24/31 đường Q, thị trấn V, K, Hà Nội (Địa chỉ cũ theo hộ khẩu: Số 80, tổ 2, khối Đuống, thị trấn V, K, Hà Nội) đã chết kể từ ngày 01/01/1994.
2. Quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của bà Phùng Thị G được giải quyết như đối với người đã chết. Tài sản của bà Phùng Thị G (nếu có) được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
3. Lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Phùng Thị M phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ mà bà M đã nộp theo biên lai số 72592 ngày 11/5/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, Tp Hà Nội.
4. Bà Phùng Thị M có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt quyết định theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định. N¬i nhËn:
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K
- C¸c ® ¬ng sù;
| - VKS.ND.H Gia L©m; - Chi Cục Q huyện K - UBND thị trấn V, GL, HN; - L u hå s¬ vô ¸n; | Thẩm phán Vũ Quang Long |