- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "DSPT"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Dương Nguyên Anh T. Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 16/2022/QĐST-DS ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải qu…
- Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH Số: 85/2023/QĐ-PT | Bình Định, ngày 30 tháng 6 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ
GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Phan Minh Dũng.
Các Thẩm phán: Bà Đỗ Thị Thắm.
Ông Võ Công Phương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên họp: Bà Lữ Thị Xuân Dương - Kiểm sát viên.
Tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 16/2022/QĐST-DS ngày 13 tháng 12 năm 2022.
Tòa án nhân dân huyện Phù Cát đã căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng Dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và mua bán nhà ở vô hiệu” giữa:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Dương Nguyên Anh T, sinh năm 1987; Cư trú: 150/3 T, Phường A, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1980; Cư trú: Khu phố P, thị trấn C, huyện P, tỉnh Bình Định.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Dương Anh T1, sinh năm 1980; Cư trú: Thôn H, xã C, huyện V, tỉnh Bình Định.
2. Bà Nguyễn Thị Diễm L, sinh năm 1985; Cư trú: Thôn H, xã C, huyện V, tỉnh Bình Định.
3. Ông Dương Nguyên Anh T2, sinh năm 1984; Cư trú: Số nhà A, đường T, phường A, Quận C, Tp.H.
4. Bà Nguyễn Dương Nguyên Anh T3, sinh năm 1989
5. Bà Nguyễn Ngọc T4, sinh năm 1995
6. Ông Nguyễn Ngọc T5, sinh năm 1999
Đồng cư trú: Số nhà D đường N, phường I, Quận P, thành phố Hồ Chí Minh
7. Ông Nguyễn Ngọc T6, sinh năm 1997; Cư trú: Tổ F, khu V, phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
Ông T2, bà T3, bà T4, ông T5, ông T6 ủy quyền cho bà Nguyễn Dương Nguyên Anh T (theo Hợp đồng ủy quyền công chứng ngày 22/4/2022 tại văn phòng C1; Địa chỉ: ¼ đường B, thị trấn H, huyện H, thành phố H).
Ngày 10/01/2023 bà Nguyễn Dương Nguyên Anh T kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 16/2022/QĐST-DS ngày 13 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Định.
XÉT THẤY:
Theo đơn khởi kiện ngày 20/8/2017 bà Nguyễn Dương Nguyên Anh T trình bày:
Nguyên thửa đất số 12, tờ bản đồ số 29 tại thôn P, xã C, huyện P, thuộc quyền sở hữu của ông bà Ngoại bà là ông Dương Hoài S (chết 1996) và bà Trần Thị B (chết 2003) tạo lập từ trước năm 1975, xây nhà và sinh sống ổn định trên mảnh đất trên không ai tranh chấp. Ông bà ngoại bà có 02 người con là ông Dương H1 (chết 1967) và mẹ bà là bà Dương Thị Hồng T7 (chết 2007), ông bà N mất không để lại di chúc. Mẹ bà có 07 người con là: Dương Anh T1, Dương Nguyễn Anh T8, Nguyễn Dương Nguyên Anh T, Nguyễn Dương Nguyên Anh T3, Nguyễn Ngọc T4, Nguyễn Ngọc T6 và Nguyễn Ngọc T5. Đến năm 2007, mẹ bà mất không để lại di chúc, nên theo quy định của pháp luật thì nhà và đất là di sản thừa kế của ông bà Ngoại bà để lại cho 07 anh chị em của bà. Ngày 17/12/2015 ông Dương Anh T1 đã viết giấy tay chuyển nhượng nhà và đất trên cho bà Lê Thị H mà không có sự bàn bạc và đồng ý của anh chị em còn lại trong gia đình. Nay bà T khởi kiện yêu cầu tòa giải quyết buộc bà Lê Thị H phải tháo dỡ nhà, trả lại đất và yêu cầu Tòa tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 17/12/2015 giữa bà Lê Thị H và ông Dương Anh T1.
Ngày 13/12/2022 Tòa án cấp sơ thẩm ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 16/2022/QĐST-DS với lý do bà Nguyễn Dương Nguyên Anh T không có quyền khởi kiện, vì ngôi nhà và đất đang tranh chấp chuyển nhượng có nguồn gốc của cụ S, cụ B chết để lại người thừa kế duy nhất là bà Dương Thị Hồng T7 (bà T7 chết năm 2007). Chính bà Nguyễn Dương Nguyên Anh T thừa nhận bà trực tiếp ghi chép lại nội dung di chúc miệng của mẹ bà là bà T7 tại “Biên bản họp gia đình” ngày 30/5/2011, nên bà T không có quyền khởi kiện yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và mua bán nhà ở giữa vợ chồng ông T1, bà L với bà Lê Thị H vô hiệu.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng phúc thẩm xét thấy:
“Biên bản họp gia đình” ngày 30/5/2011 có tại hồ sơ vụ án là bản photo copy không phải là bản chính nên đây không phải là chứng cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 95 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Đồng thời theo Biên bản lấy lời khai ngày 22/5/2020 (BL32) bà T khai trước khi mẹ mất có di chúc miệng giao cho bà quản lý toàn bộ các tài sản của mẹ để lại bao gồm nhà đất đang tranh chấp, nhưng vì để cho các anh bà yên tâm, nên ngày 30/5/2011 anh em bà mới họp gia đình và phân chia tài sản như trong “Biên bản họp gia đình” nhằm tạo tâm lý cho các anh bà yên tâm ở và canh tác, chứ không phải giao cho các anh quyền bán. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 22/5/2020 (BL45) ông T8 cũng cho rằng chỉ giao để ở chứ không bán. Các anh em khác tòa chưa lấy lời khai liên quan đến “biên bản họp gia đình”. Do đó, Tòa cấp sơ thẩm cho rằng C bà Nguyễn Dương Nguyên Anh T thừa nhận bà trực tiếp ghi chép lại nội dung di chúc miệng của mẹ bà là bà T7 tại “Biên bản họp gia đình” ngày 30/5/2011, nên bà T không có quyền khởi kiện để đình chỉ vụ án là không có cơ sở. Lẽ ra, Tòa cấp sơ thẩm cần phải thu thập chứng cứ là bản gốc “Biên bản họp gia đình” và lấy lời khai, đối chất 07 anh chị em bà T để làm rõ Biên bản họp gia đình có hay không? Nội dung có phải giống như bà T trình bày hay không thì mới có cơ sở giải quyết vụ án và không làm ảnh hưởng đến quyền thừa kế của các anh chị em khác. Hơn nữa bà T cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của bà bị xâm phạm nên bà khởi kiện “yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và mua bán nhà ở vô hiệu” nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà T nên theo quy định tại khoản 1 Điều 5, khoản 2 Điều 68 và Điều 186 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì bà T có quyền khởi kiện. Do đó, Tòa án cần phải xác minh, thu thập chứng cứ và phải mở phiên tòa để xem xét đánh giá các chứng cứ để quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bằng một bản án.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng phúc thẩm xét thấy Tòa cấp sơ thẩm ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là không có cơ sở, vi phạm nghiêm trọng tố tụng nên cần hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 16/2022/QĐST-DS ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Định và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đề nghị chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 16/2022/QĐST-DS ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện P, Bình Định và chuyển hồ sơ vụ án cho TAND huyện P để tiếp tục giải quyết là phù hợp với nhận định của Hội đồng phúc thẩm.
Căn cứ vào điểm c khoản 5 Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Dương Nguyên Anh T. Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 16/2022/QĐST-DS ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Dương Nguyên Anh T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho bà Nguyễn Dương Nguyên Anh T 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0011818 ngày 08/02/2023 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện P, tỉnh Bình Định.
3. Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Định; - TAND huyện P; - Chi cục THADS huyện P; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; Tòa dân sự. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký và đóng dấu) Phan Minh Dũng |