- Tranh chấp gì? "NGUYEN THI MOT & UBND QUAN 12"
- Tòa quyết gì? 1- Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện bà Nguyễn Thị M;
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 143 Luật Tố tụng hành chính; Điều 144 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 842/2022/QĐ-PT | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 10 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Đỗ Đình Thanh
Các thẩm phán:
Ông Phạm Văn Công
Bà Đinh Ngọc Thu Hương
- Thư ký phiên họp: Bà Phan Thanh Trúc – Thư ký Tòa án nhân dân cấp
cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí
Minh tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Hữu Hậu – Kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số:
80/2022/QĐST-HC ngày 19 tháng 01 năm 2022, Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 116, điểm g khoản 1 Điều 143, Điều 144, Điều 145, Điều 351 và Điều 206 của Luật Tố tụng hành chính quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về “Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai”; giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1944; địa chỉ: Số 67/2,
khu phố 5, phường T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Phạm Băng S,
sinh năm 1969; địa chỉ: Số 67/2, khu phố 5, phường T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông Nguyễn Văn Đ –
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Số 1, đường Lê Thị R, phường T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Thân
Thế H – Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại đơn kháng cáo ngày 19/5/2022, người khởi kiện bà Nguyễn Thị M
yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số: 80/2022/QĐST-HC ngày 19/01/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục giải quyết vụ án với lý do: Từ khi biết được bản đồ hiện trạng không đúng thực tế đến khi khởi kiện hành vi hành chính, bà phải liên tục trong trạng thái hầu tòa, khiếu nại và chờ kết quả giải quyết của Tòa án nhân dân các cấp, trình độ hiểu biết pháp luật thấp, hoàn cảnh khó khăn không thể thuê luật sư, không thể cùng lúc khởi kiện vụ án dân sự và vụ án hành chính. Đây được xem là trường hợp vì sự kiện bất khả kháng làm cho người khởi kiện không khởi kiện được nên không tính vào thời hiệu khởi kiện được quy định tại khoản 4 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính. Vì vậy, việc Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đình chỉ giải quyết vụ án hành chính với lý do đã hết thời hiệu khởi kiện vụ án, là không có cơ sở.
XÉT THẤY:
[1] Ngày 29/11/2019, bà Nguyễn Thị M có đơn khởi kiện hành vi hành
chính đối với việc Phòng Tài nguyên và Môi trường Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh: kiểm tra nội nghiệp ngày 01/02/2018 trên Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 555/HĐDV/2018/VT do Công ty cổ phần dịch vụ bất động sản VT đo vẽ ngày 17/01/2018; kiểm tra nội nghiệp ngày 12/6/2015 trên Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 257/ĐĐBĐ/MT do Công ty trách nhiệm hữu hạn thiết kế, đo đạc MT đo vẽ ngày 18/5/2015.
[1.1] Tuy nhiên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 594/2018/DS-ST ngày
10/8/2018 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn ông Lê Vinh Th và bị đơn bà Nguyễn Thị M, ông Phạm Văn R thể hiện: Ngày 22/10/2016, trong quá trình giải quyết vụ án này, người đại diện theo ủy quyền của bà M và ông R là ông Phạm Băng S có cung cấp cho Tòa án Quận 12 các tài liệu, chứng cứ, trong đó có “Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 257/ĐĐBĐ/MT do Công ty trách nhiệm hữu hạn thiết kế, đo đạc MT đo vẽ ngày 18/5/2015” để chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp của bà M và ông R. Đồng thời, tại trang 12 của Bản án dân sự sơ thẩm số: 594/2018/DS-ST ngày 10/8/2018 của Tòa án nhân dân Quận 12 cũng có ghi: “...Các bên đương sự không có ý kiến về Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 555/HĐDV/2018/VT ngày 17/01/2018 của Công ty cổ phần dịch vụ bất động sản VT đã được Phòng Tài nguyên và Môi trường Quận 12 kiểm tra nội nghiệp ngày 01/02/2018 nên Tòa án Quận 12 căn cứ Bản đồ vị trí nêu trên để làm cơ sở giải quyết vụ kiện”.
[1.2] Sau đó, trong quá trình giải quyết vụ án hành chính theo đơn khởi
kiện ngày 29/11/2019 của bà Nguyễn Thị M, ông Phạm Băng S là người đại diện theo ủy quyền của bà M đã có Bản tự khai ngày 14/02/2020 (BL 25, 26), trong đó có nội dung: “Tôi đã phản đối nhiều lần về bản đồ hiện trạng 555, (có ghi trong biên bản phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 20/3/2018 và ngày 06/6/2018)”.
[1.3] Từ những tài liệu, chứng cứ nêu trên đủ cơ sở nhận thấy, Tòa án
cấp sơ thẩm xác định, đến ngày 20/3/2018, người khởi kiện bà Nguyễn Thị M có người đại diện theo ủy quyền là ông Phạm Băng S đã biết được việc Phòng Tài nguyên và Môi trường Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra nội nghiệp trên hai bản đồ hiện trạng vị trí nêu trên; nhưng đến ngày 29/11/2019 bà M mới nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính là đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính; do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[2] Người khởi kiện bà Nguyễn Thị M kháng cáo cho rằng, do trình độ
hiểu biết pháp luật thấp, hoàn cảnh khó khăn không thể thuê luật sư, không thể cùng lúc khởi kiện vụ án dân sự và vụ án hành chính; đây phải được xem là trường hợp vì sự kiện bất khả kháng làm cho người khởi kiện không khởi kiện được nên không tính vào thời hiệu khởi kiện được quy định tại khoản 4 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, là không có cơ sở để chấp nhận.
[3] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng phúc thẩm thống nhất với ý
kiến, quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên họp, không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện bà Nguyễn Thị M, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số: 80/2022/QĐST-HC ngày 19/01/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
[4] Về án phí hành chính phúc thẩm:
Miễn nộp án phí hành chính phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị M, do là
người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn án phí hành chính phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 243 của Luật Tố tụng hành chính;
QUYẾT ĐỊNH:
1- Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện bà Nguyễn Thị M;
giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số: 80/2022/QĐST-HC ngày 19 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:
1.1. Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thụ lý số: 23/2020/TLST-HC
ngày 15 tháng 01 năm 2020 về “Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai”; giữa:
- Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1944; địa chỉ: Số 67/2,
khu phố 5, phường T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Phạm Băng S,
sinh năm 1969; địa chỉ: Số 67/2, khu phố 5, phường T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông Nguyễn Văn Đ –
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Số 1, đường Lê Thị R, phường T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Thân
Thế H – Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
1.2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án:
Đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án
này, nếu việc khởi kiện không có gì khác với vụ án đã đình chỉ về người khởi kiện, người bị kiện và quan hệ pháp luật tranh chấp, trừ các trường hợp:
Người khởi kiện rút đơn khởi kiện trong trường hợp không có yêu cầu
độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
Người khởi kiện không có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ;
Trường hợp pháp luật có quy định về điều kiện nhưng người khởi kiện
đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó;
Người khởi kiện lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu
nại trong trường hợp quy định tại Điều 33 Luật Tố tụng hành chính;
Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
1.3. Về án phí hành chính sơ thẩm:
+ Ủy ban nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh không phải chịu
án phí.
+ Trả lại cho bà Nguyễn Thị M số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tạm
ứng án phí hành chính sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số AA/2019/0045501 ngày 13/01/2020 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
2- Về án phí hành chính phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị M được miễn án phí hành chính phúc thẩm.
3- Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định là ngày
10 tháng 10 năm 2022./.
TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh; - TAND TP. Hồ Chí Minh; - VKSND TP. Hồ Chí Minh; - Cục THADS TP. Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu (QĐ-Trúc). Các Thẩm phán Đinh Ngọc Thu Hương Phạm Văn Công | THẦM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Đỗ Đình Thanh Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp Đỗ Đình Thanh |