vanban.org

Quyết định 84/2022/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 25/04/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

luật dân sự năm 2015;

vụ Quốc hội; Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Trương Thị Mỹ H: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi"
  • Tòa quyết gì? luật dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 23 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN BÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 84/2022/QĐST–DSTân Bình, ngày 25 tháng 4 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thanh Vân

Thư ký phiên họp: Ông Hoàng Chí Thành – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân

Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên họp: Bà Võ

Ngọc Liên Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở của Tòa án nhân dân quận Tân Bình mở

phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 48/2022/TLST-DS ngày

09 tháng 02 năm 2022 về việc: “Tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ

hành vi” theo Quyết định mở phiên họp số 08/2022/QĐST-DS ngày 14 tháng 4 năm

2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu: Bà Trương Thị Mỹ H, sinh năm 1959 (có mặt)

Địa chỉ: 494/1/18 (số cũ 498/46) Đường Q, Phường M, quận W, TP.Hồ Chí Minh

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Ton Brian N, sinh năm 1972 (vắng mặt)

Hộ chiếu số: xxxxxxxxx

Cư trú: Hoa Kỳ

- Ông Trương Thới C, sinh năm 1937 (vắng mặt)

Địa chỉ: 61/11 Đường D, Phường Z, quận W, TP.Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc: “Tuyên bố người có khó khăn

trong nhận thức, làm chủ hành vi” ngày 25/01/2022, bà Trương Thị Mỹ H trình bày:

Bà Trương Thị L1 có cha là ông Trương Thới X (đã chết), mẹ là Trần Thị V (đã

chết), chồng là Tôn Ngọc X (đã chết). Bà Trương Thị L1 có 02 người con là Tôn Thị

Bích L2, và Ton Brian N. Bà L1 hiện nay tuổi tác đã cao, trí nhớ có phần suy giảm,

lúc nhớ lúc không, có khó khăn trong việc tự ăn uống, đi lại, vệ sinh cá nhân nên cần

người chăm sóc cho bà L1. Bà L1 có 02 người con nhưng người con thứ nhất là bà Tôn Thị Bích L2 cũng mắc hội chứng rối loạn tâm thần cũng có khó khăn trong nhận thức và điều khiển hành vi nên không tự chăm sóc cho bản thân và mẹ mình là bà L1 được. Người con thứ hai là Ton Brian N, sinh năm 1972 hiện nay đang ở Hoa Kỳ, không thường xuyên về Việt Nam nên không thể chăm sóc cho mẹ (bà L1) và chị gái (bà L2) được.

Ngoài ra, bà L1 còn có 01 người em ruột là Trương Thới C (cha ruột của Trương

Thị Mỹ H), sinh năm 1937, địa chỉ: 61/11 Đường D, Phường Z, quận W. Ông C hiện nay tuổi tác đã cao, bản thân cũng cần người chăm sóc nên không thể chăm sóc cho chị gái (bà L1) được. Bà H là cháu ruột, hiện nay là người duy nhất đang chăm sóc cho bà L1 và bà L2. Do đó, bà yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Trương Thị L1 và bà Tôn Thị Bích L2 có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi đồng thời chỉ định bà làm người giám hộ để thuận tiện cho việc chăm sóc cho bà L1 và bà L2 và đại diện cho bà L1 và bà L2 trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Ton Brian N trình bày: Bà Trương Thị L1 có cha là ông Trương Thới X (đã

chết), mẹ là Trần Thị V (đã chết), chồng là Tôn Ngọc X (đã chết). Bà Trương Thị L1 có 02 người con là Tôn Thị Bích L2, và ông là Ton Brian N. Mẹ ông (bà L1) hiện nay tuổi tác đã cao, trí nhớ có phần suy giảm, lúc nhớ lúc không, có khó khăn trong việc tự ăn uống, đi lại, vệ sinh cá nhân nên cần người chăm sóc. Chị gái (bà L2) cũng mắc hội chứng rối loạn tâm thần cũng có khó khăn trong nhận thức và điều khiển hành vi nên không tự chăm sóc cho bản thân và mẹ. Mẹ ông (bà L1) còn có 01 người em trai tên là Trương Thới C, sinh năm 1937. Ông C hiện nay tuổi tác đã cao, bản thân cũng cần người chăm sóc nên không thể chăm sóc cho mẹ ông (bà L1) được. Bà Trương Thị Mỹ H là người con duy nhất của ông C, hiện nay là người duy nhất đang chăm sóc cho mẹ và chị gái của ông. Ông đồng ý với việc bà H yêu cầu Tòa án tuyên bố bà L1 và bà L2 có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, đồng thời từ chối việc giám hộ đối với bà L1 và bà L2, đồng ý để bà H giám hộ cho bà L1 và bà L2.

Ông Trương Thới C trình bày: Bà Trương Thị L1 có cha là ông Trương Thới X

(đã chết), mẹ là Trần Thị V (đã chết), chồng là Tôn Ngọc X (đã chết). Bà Trương Thị L1 có 02 người con là Tôn Thị Bích L2, và Ton Brian N . Bà L1 hiện nay tuổi tác đã cao, trí nhớ có phần suy giảm, lúc nhớ lúc không, có khó khăn trong việc tự ăn uống, đi lại, vệ sinh cá nhân nên cần người chăm sóc cho bà L1. Bà L1 có 02 người con nhưng người con thứ nhất là bà Tôn Thị Bích L2 cũng mắc hội chứng rối loạn tâm thần cũng có khó khăn trong nhận thức và điều khiển hành vi nên không tự chăm sóc cho bản thân và mẹ mình là bà L1 được. Người con thứ hai là Ton Brian N , sinh năm 1972 hiện nay đang ở Hoa Kỳ, không thường xuyên về Việt Nam nên không thể chăm sóc cho bà L1 và bà L2 được. Ông là em trai ruột duy nhất của bà L1, tuy nhiên hiện nay do tuổi tác đã cao, bản thân cũng cần có người chăm sóc nên không thể chăm sóc cho chị gái và cháu gái được. Bà Trương Thị Mỹ H là người con duy nhất của ông, là người đang trực tiếp chăm sóc cho bà L1 và bà L2. Do đó, ông đồng ý với yêu cầu của bà H yêu cầu Tòa án tuyên bố bà L1 và bà L2 có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, do sức khỏe yếu nên ông từ chối việc giám hộ đối với bà L1 và bà L2 đồng ý để bà H giám hộ cho bà L1 và bà L2.

Tại phiên họp, người yêu cầu là bà Trương Thị Mỹ H vẫn giữ nguyên yêu cầu

tuyên bố bà Trương Thị L1 và bà Tôn Thị Bích L2 có khó khăn trong nhận thức, làm

chủ hành vi đồng thời chỉ định bà làm người giám hộ cho bà L1 và bà L2.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trương Thới C và ông Tôn Hữu

Nghĩa có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố

tụng: Tòa án nhân dân quận Tân Bình đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của

Bộ luật tố tụng dân sự; Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của

bà Trương Thị Mỹ H tuyên bố bà Trương Thị L1 và bà Tôn Thị Bích L2 có khó khăn

trong nhận thức, làm chủ hành vi, đồng thời chỉ định bà H làm giám hộ cho bà L1 và

bà L2.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm

tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa

án nhân dân Tân Bình nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật:

Bà Trương Thị Mỹ H có đơn yêu cầu tuyên bố bà Trương Thị L1 và bà Tôn Thị

Bích L2 có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bà L1 và bà L2 cư trú tại quận

Tân Bình nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo

quy định tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ

luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ton Brian N và ông Trương Thới

C có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành phiên họp vắng

mặt các đương sự là phù hợp với khoản 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về yêu cầu của đương sự:

Căn cứ vào kết luận giám định pháp y tâm thần số 565/KLGĐ ngày 09/3/2022

của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh thì bà Trương Thị

L1 bị sa sút tâm thần tuổi già (F0.3-ICD10), đương sự có khó khăn trong nhận thức,

làm chủ hành vi.

Căn cứ vào kết luận giám định pháp y tâm thần số 616/KLGĐ ngày 14/3/2022

của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh thì bà Tôn Thị Bích

L2 bị tâm thần phân liệt thể di chứng (F20.5-ICD10), đương sự có khó khăn trong nhận

thức, làm chủ hành vi.

Xét yêu cầu của bà Trương Thị Mỹ H yêu cầu tuyên bố bà Trương Thị L1 và bà

Tôn Thị Bích L2 có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; xét đề nghị của đại

diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đề nghị chấp nhận yêu cầu giải quyết việc

dân sự của bà H là có cơ sở, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 23 Bộ luật dân sự

năm 2015 và Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên chấp nhận.

Căn cứ lời khai của con trai của bà L1 là ông Ton Brian N và lời khai của em

trai của bà L1 là ông Trương Thới C đều từ chối việc giám hộ đối với bà Trương Thị L1 và bà Tôn Thị Bích L2 và đồng ý để bà Trương Thị Mỹ H làm giám hộ cho bà L1 và bà L2. Căn cứ lời thừa nhận của các bên đương sự và xác nhận tại Công văn số 119/UBND ngày 01/4/2022 của Ủy ban nhân dân Phường Z, quận Tân Bình thì bà Trương Thị Mỹ H đang chăm sóc cho bà Trương Thị L1 và bà Tôn Thị Bích L2 nên căn cứ Điều 47, Điều 48, Điều 49, Điều 57 và Điều 58 của Bộ luật dân sự, Tòa án chỉ định bà Trương Thị Mỹ H là người giám hộ cho bà Trương Thị L1 và bà Tôn Thị Bích L2 và xác định quyền và nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ theo quy định.

Về lệ phí việc dân sự: Bà H phải chịu lê phí giải quyết việc dân sự là 300.000

đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39,

khoản 3 Điều 367, Điều 371, Điều 372, Điều 376, Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 1 Điều 23, Điều 47, Điều 48, Điều 49, Điều 57 và Điều 58 Bộ

luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường

vụ Quốc hội;

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Trương Thị Mỹ H:

Tuyên bố bà Trương Thị L1, sinh năm 1933, số CCCD: xxxxxxxxxxxx, địa chỉ:

31 Hoàng Việt, Phường Z, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh và bà Tôn Thị Bích L2, sinh năm 1958, số CMND: xxxxxxxxx, địa chỉ: 31 Hoàng Việt, Phường Z, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật.

Về giám hộ: Chỉ định bà Trương Thị Mỹ H, sinh năm 1959, địa chỉ: 494/1/18 (số

cũ 498/46) Đường Q, Phường M, quận W, TP.Hồ Chí Minh là người giám hộ cho bà Trương Thị L1 và bà Tôn Thị Bích L2.

Người giám hộ có quyền:

- Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu

cầu thiết yếu của người được giám hộ (nếu có);

- Được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản của người được

giám hộ (nếu có);

- Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân

sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.

Người giám hộ có nghĩa vụ:

- Chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ;

- Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự;

- Quản lý tài sản của người được giám hộ (nếu có);

- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.

2. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Trương Thị Mỹ H phải chịu lệ phí giải

quyết việc dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) được cấn trừ vào số

tiền tạm ứng lệ phí do bà H đã nộp theo biên lai số 0030973 ngày 09/02/2022 của Chi

cục thi hành án dân sự quận Tân Bình.

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày công bố

quyết định. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày

nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông

báo, niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh có

quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ