- Tranh chấp gì? "Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý đất đai trong trường hợp thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện ông Văn Minh N; giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 155/2020/QĐST-HC ngày 28/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh L.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật tố tụng hành chính; Điều 143 Luật tố tụng hành chính đình chỉ giải
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 83/2021/QĐ-PT | Hà Nội, ngày 05 tháng 02 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH
ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp:
Bà Vũ Thị Thu Hà;
Các Thẩm phán:
Ông Thái Duy Nhiệm;
Ông Bùi Xuân Trọng.
Thư ký phiên họp: Ông Phan Nhật Phong, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Thu Hà, Kiểm sát viên cao cấp.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 155/2020/QĐST-HC ngày 28/8/2020, Tòa án nhân dân tỉnh L đã căn cứ vào khoản 5 Điều 38; Điều 143; Điều 144 Luật Tố tụng hành chính, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý đất đai trong trường hợp thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư”, giữa:
thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư”, giữa:
* Người khởi kiện: Bà Lò Thị T, sinh năm 1979;
Địa chỉ: Bản K, xã T2, huyện T1, tỉnh L.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Văn Minh N, sinh năm 1973.
Trú tại: Số 16, lô 3 P, Đại lộ T3, tổ 15, phường B, thành phố L1, tỉnh L1.
* Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện T1, tỉnh L;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Văn H, chức vụ: Chủ tịch;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Quang C, chức vụ: Phó Chủ tịch;
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông Lò Văn B1, sinh năm 1974;
Trú tại: Bản K, xã T2, huyện T1, tỉnh L.
Tại đơn kháng cáo đề ngày 29/8/2020, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện là ông Văn Minh N kháng cáo toàn bộ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 155/2020/QĐST-HC ngày 28/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh L.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội cho rằng căn cứ điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính thì thời hiệu khởi kiện đã hết, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án là đúng quy định, nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 155/2020/QĐST-HC ngày 28/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh L.
XÉT THẤY:
Ngày 04/3/2011, Ủy ban nhân dân huyện T1, tỉnh L ban hành Quyết định số: 249/QĐ-UBND về việc thu hồi đất tại đầu đi Bản K, xã T2 để giải phóng mặt bằng vùng ngập lòng hồ Thủy điện bản C1 của các hộ dân (trong đó có hộ gia đình Bà Lò Thị T). Cùng ngày 04/3/2011 UBND huyện T1 ban hành Quyết định số 250/QĐ-UBND, Quyết định số 251/QĐ-UBND, Quyết định số 253/QĐ-UBND và ngày 11/5/2012 tiếp tục ban hành Quyết định số 758/QĐ-UBND về phê duyệt phương án – dự toán bồi thường nhà ở, vật kiến trúc trên đất thu hồi của các hộ gia đình Bản K, xã T2 phê duyệt điều chỉnh phương án dự toán hỗ trợ tái định cư; phê duyệt phương án – dự toán cân đối giá trị chênh lệch thiệt hại về đất cho các hộ gia đình Bản K tái định cư tại điểm tái định cư P1, khu tái định cư M - T2 huyện T1 thuộc dự án Di dân tái định cư thủy điện Bản C1, huyện T1, tỉnh L. Ngày 14/02/2020, Bà Lò Thị T nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh L.
Ngày 28/02/2020, Tòa án nhân dân tỉnh L thụ lý vụ án và ngày 28/8/2020 đã ban hành Quyết định số 155/2020/QĐST-HC đình chỉ giải quyết vụ án nêu trên.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng phúc thẩm thấy: Ngày 04/3/2011, Ủy ban nhân dân huyện T1, tỉnh L ban hành Quyết định số 249/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của các hộ dân (trong đó có hộ gia đình Bà Lò Thị T) để giải phóng mặt bằng vùng ngập lòng hồ Thủy điện bản C1, đồng thời các ngày 04/3/2011, ngày 11/5/2012 ban hành các quyết định về phê duyệt phương án - dự toán bồi thường nhà ở, vật kiến trúc trên đất thu hồi của các hộ gia đình Bản K, xã T2; phê duyệt điều chỉnh phương án dự toán hỗ trợ tái định cư; phê duyệt phương án – dự toán cân đối giá trị chênh lệch thiệt hại về đất cho các hộ gia đình Bản K tái định cư tại điểm tái định cư P1, khu tái định cư M - T2 huyện T1 thuộc dự án Di dân tái định cư thủy điện Bản C1, huyện T1, tỉnh L.
Từ ngày 17/3/2011, UBND huyện T1 tiến hành chi trả tiền và đến ngày 06/01/2015, hộ gia đình Bà Lò Thị T đã nhận đủ tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Như vậy, kể từ thời điểm Bà T nhận tiền bồi thường là Bà T biết được các quyết định hành chính, hành vi hành chính của UBND huyện T1, nhưng đến ngày 10/01/2020 Bà Lò Thị T mới có đơn khởi kiện vụ án hành chính là đã quá thời hạn 01 năm; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính thì thời hiệu khởi kiện vụ án đã hết. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh L căn cứ khoản 5 Điều 38; Điều 143; Điều 144 Luật tố tụng hành chính đình chỉ giải quyết vụ án với lý do đã hết thời hiệu khởi kiện là đúng quy định pháp luật.
Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Văn Minh N là người đại diện theo ủy quyền của Bà Lò Thị T; giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính của Tòa án nhân dân tỉnh L.
Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên Bà Lò Thị T phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 243 Luật tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện ông Văn Minh N; giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 155/2020/QĐST-HC ngày 28/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh L.
2. Về án phí: Bà Lò Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai số 0000719 ngày 10/9/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh L, xác nhận Bà T đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Hà Nội; - VKSND tỉnh L; - TAND tỉnh L; - Cục THADS tỉnh L; - Các đương sự (theo địa chỉ) - Lưu Hồ sơ; HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Vũ Thị Thu Hà |