- Tranh chấp gì? Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự — án dân sự — "Đỗ Thị Kim C - Công ty Cổ phần Đấu giá NG"
- Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| 1 TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH! ! Số : 83/2019/QĐ-PT | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 01 năm 2019 |
QUYẾT!ĐỊNH!
GIẢI!QUYẾT!VIỆC!KHÁNG!CÁO!!ĐỐI!!VỚI!
QUYẾT!ĐỊNH!ĐÌNH!CHỈ!GIẢI!QUYẾT!VỤ!ÁN!DÂN!SỰ!
!
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:!
Thẩm"phán"–"Chủ"tọa"phiên"họp: Ông Lê Ngọc Tường
Các"Thẩm"phán: Ông Nguyễn Minh Quang
Bà Đỗ Thị Hòa
Thư ký phiên họp: Bà Phan Thị Liễu – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Yến Oanh – Kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 577/2018/QĐST-DS ngày 11/10/2018, Tòa án nhân dân Quận 1 căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng bán đấu giá tài sản” giữa:
Nguyên"đơn: Bà Đỗ Thị Kim C, sinh năm 1963
Địa chỉ: F28 cư xá PL B, Phường MB, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị"đơn: Công ty Cổ phần Đấu giá NG
Địa chỉ: 21 PKB, phường DK, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Phan Thị Ngân C2, sinh năm 1993
Địa chỉ: 25/15 Đường N, phường HBC, quận T Đ, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan:
1. Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6
Địa chỉ: Số 2 Đường B, Phường MI, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh
2. Ông Trần Hữu K, sinh năm 1973
Địa chỉ: 16 lô M, Cư xá PL D, Phường MI, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1970
4. Bà Nguyễn Đông Ngọc Đ, sinh năm 1995
5. Ông Nguyễn Phúc Đ2, sinh năm 1991
Cùng địa chỉ: F28 cư xá PL B, Phường MB, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh.
2
Tại đơn kháng cáo ngày 18/10/2018, nguyên đơn bà Đỗ Thị Kim C kháng cáo và yêu cầu hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, với lý do:
Tòa án nhân dân Quận 1 thụ lý vụ kiện từ năm 2015 đến nay đã trải qua nhiều lần hòa giải, kiểm tra giao nộp chứng cứ, thậm chí có Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2098/2018/QĐXXST ngày 08/5/2018 nhưng Tòa án thông báo hoãn phiên tòa. Sau này trở lại hòa giải, kiểm tra giao nộp chứng cứ. Từ trước đến nay, tôi chưa hề vắng mặt, dù không nhận giấy triệu tập tôi vẫn tự liên hệ Thẩm phán để biết tiến độ giải quyết vụ việc. Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án cho rằng nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là không đúng, bởi nguyên đơn và các đương sự trong vụ kiện chưa nhận được giấy triệu tập hợp lệ lần nào của Tòa án nhân dân Quận 1 từ đầu tháng 10/2018 đến nay, cụ thể: Ngày 29/8/2018, Tòa án nhân dân Quận 1 tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Buổi hòa giải này các bên chưa thống nhất số tiền chuộc lại nhà. Tòa án có giấy triệu tập lúc 13 giờ 30 phút ngày 28/9/2018 để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời thống nhất hướng giải quyết. Đúng hẹn theo Giấy triệu tập ngày 28/9/2018, do bận công việc đột xuất nên điện thoại thông báo Thẩm phán Đặng Diệu Linh biết sự việc và Thẩm phán đồng ý và đề nghị tôi điện thoại thông báo cho ông Trần Hữu Khánh và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6 để biết để khỏi đến Tòa án, nên chắc chắn ngày 28/9/2018 không có đương sự nào có mặt. Đồng thời, Tòa án nhân dân Quận 1 có Quyết định chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Quận 6 giải quyết với nhận định bất động sản ở đâu thì Tòa án ở đó có thẩm quyền giải quyết là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng Tòa án nhân dân Quận 1 tiếp tục giải quyết mà không chuyển cho Tòa án nhân dân Quận 6 là trái thẩm quyền (bút lục 554 – 556).
Ngày 22/10/2018, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông P, bà Đ, ông Đ2 nộp đơn kháng cáo yêu cầu hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án nhân dân Quận 1, với lý do: Từ trước đến nay chưa nhận được thông báo, giấy triệu tập của Tòa án. Tòa án nhân dân Quận 1 ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng quy định của pháp luật. Đồng thời về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân Quận 1 có Quyết định chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Quận 6 giải quyết với nhận định bất động sản ở đâu thì Tòa án ở đó có thẩm quyền giải quyết là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng Tòa án nhân dân Quận 1 tiếp tục giải quyết mà không chuyển cho Tòa án nhân dân Quận 6 là trái thẩm quyền.
XEÙT THAÁY:
Ngày 06/4/2015, nguyên đơn bà Đỗ Thị Kim C nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân Quận 6 (bút lục số 31 – 33) và ngày 15/5/2015 Tòa án nhân dân Quận 6 ra Thông báo số 03 chuyển đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo đến Tòa án nhân dân Quận 1 để giải quyết (bút lục số 43). Ngày 05/6/2015, Tòa án nhân dân Quận 1 lập hồ sơ đơn kiện án dân sự (bút lục số 04); ngày 10/7/2015, Tòa án nhân dân Quận 1 lập biên bản giao nhận thông báo nộp tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn
3
bà Chi (bút lục số 03) và cùng ngày 10/7/2015, bà Chi nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 06987 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1 (bút lục số 01), đồng thời Tòa án nhân dân Quận 1 thụ lý vụ án cùng ngày).
Ngày 21/9/2015, Tòa án nhân dân Quận 1 ra Quyết định chuyển hồ sơ vụ án số 1367/2015/QĐST-DS đến Tòa án nhân dân Quận 6 để giải quyết theo thẩm quyền, với lý do tài sản tranh chấp là bất động sản ở tại địa chỉ F28 Cư xá PL B, Phường MB, Quận S (bút lục số 60).
Theo Công văn không số ngày 27/3/2017 của Tòa án nhân dân Quận 1, về việc cung cấp thông tin gửi Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6 có nội dung: Ngày 21/9/2015, Tòa án nhân dân Quận 1 ra Quyết định chuyển hồ sơ vụ án số 1367/2015/QĐST-DS đến Tòa án nhân dân Quận 6. Tuy nhiên, bị đơn Công ty Cổ phần đấu giá NG có đơn khiếu nại quyết định nêu trên. Qua xem xét tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Tòa án xét thấy khiếu nại của bị đơn là có căn cứ nên giữ lại và thụ lý hồ sơ để giải quyết (bút lục số 231).
Tauã ñôn åâôûã åãeän náaøy 30/3/2015, nguyên đơn baø Ñoã Tâx Kãm C åâôûã åãeän yeâu caàu âuûy åeát quaû ñaáu áãaù náaøy 12/9/2014 do Câã cuuc Tâã âaønâ aùn daân sö u Quaän 6 uûy quyeàn câo Coâná ty coå êâaàn ñaáu áãaù NG tâö uc âãeän, vr åâoâná tâö uc âãeän ñuùná quy trrnâ, trrnâ tö u luaät quy ñxnâ tauã åâoaûn 5 Ñãeàu 101 Luaät Tâã âaønâ aùn daân sö u naêm 2009, gây tâãeät âauã câo náö ôøã coù taøã saûn baùn ñaáu áãaù. Ñoàná tâôøã áãaûã quyeát câo baø Câã ñö ôuc nâaän lauã taøã saûn baùn ñaáu áãaù laø caên nâaø F28 Cö xaù PL B, Pâö ôøná MB, Quaän S, vôùã áãaù laø 2.240.000.000 ñoàná (bút lục số 31 – 33).
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 577/2018/QĐST-DS ngày 11/10/2018, Toøa aùn nâaân daân Quận 1 ñaõ caên cö ù điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng bán đấu giá tài sản”, với lý do: Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt (bút lục 545).
Trong các ngày 19/9/2017 (bút lục số 244 – 245), ngày 08/5/2018 (bút lục số 452 – 456), Tòa án nhân dân Quận 1 đã lập các biên bản hòa giải và các biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.
Ngày 08/5/2018, Tòa án nhân dân Quận 1 ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2098/QĐXXST-HNGĐ thời gian mở phiên tòa vào lúc 8 giờ ngày 05/6/2018 (bút lục số 429).
Ngày 05/6/2018, Tòa án nhân dân Quận 1 ra Quyết định hoãn phiên tòa với lý do: Ngày 14/5/2018, bà C và bà Đ có đơn yêu cầu thay đổi Thẩm phán thụ lý vụ án và bị đơn; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do (bút lục số 497).
Ngày 15/8/2018, Tòa án nhân dân Quận 1 quay lại mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời lập biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ có nội dung: Tại phiên họp, các đương sự cùng kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Các bên không có đơn xin photo tài liệu chứng cứ do bên kia giao nộp tại Tòa án
4
nhân dân Quận 1, không có ý kiến gì thêm và không yêu cầu nộp thêm tài liệu, chứng cứ nào mới. Ngoài ra, do ông P và ông Đ2 vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án lập biên bản hòa giải không thành, thông báo kết quả phiên họp đối chiếu chứng cứ và hòa giải cho các đương sự vắng mặt và đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật (bút lục số 511 – 514).
Ngày 15/8/2018, Tòa án nhân dân Quận 1 lại tiếp tục lập biên bản hòa giải có nội dung: Tại phiên họp đối chiếu chứng cứ và hòa giải ngày 15/8/2018, bà Chi cam kết trong thời gian 10 ngày sẽ thanh toán xong số tiền 3.500.000.000 đồng cho ông Khánh và số tiền còn phải thi hành án theo Quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu số 123/QĐ-CCTHA ngày 04/4/2012 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6 để nhận lại toàn bộ hồ sơ giấy tờ bản chính căn nhà F28 Cư xá PL B, Phường MB, Quận S và rút đơn yêu cầu khởi kiện tại Tòa án nhân dân Quận 1 (bút lục số 515 – 516).
Ngày 15/8/2018, Tòa án nhân dân Quận 1 ra Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ gửi cho các đương sự trong vụ án có nội dung: Bà C, bà Đ, bà C2, ông K, ông T xác nhận đã nộp toàn bộ các tài liệu chứng cứ cho Tòa án để làm cơ sở giải quyết vụ án, không yêu cầu thu thập thêm tài liệu, chứng cứ hoặc triệu tập thêm đương sự khác. Ông Đ2, ông P vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên ngoài bản khai không giao nộp tài liệu, chứng cứ (bút lục số 523).
Cùng ngày 15/8/2018, Tòa án nhân dân Quận 1 ra Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải gửi các đương sự thông báo tham gia phiên hòa giải và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vào lúc 8 giờ 30 phút ngày 29/8/2018 (bút lục số 517). Đồng thời cùng ngày 15/8/2018 Tòa án nhân dân Quận 1 đã lập biên bản tống đạt giấy triệu tập, thông báo kết quả phiên họp ngày 15/8/2018 và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bà C và các đương sự trong vụ án (bút lục số 526).
Ngày 29/8/2018, Tòa án nhân dân Quận 1 đã lập biên bản hòa giải và biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ có nội dung: Tại phiên họp, các đương sự cùng kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Các bên không có đơn xin photo tài liệu chứng cứ do bên kia giao nộp tại Tòa án nhân dân Quận 1, không có ý kiến gì thêm và không yêu cầu nộp thêm tài liệu, chứng cứ nào mới. Ngoài ra, do bà C, ông T, bà Đ, ông P và ông Đ2 vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án lập biên bản hòa giải không thành, thông báo kết quả phiên họp đối chiếu chứng cứ và hòa giải cho các đương sự vắng mặt và triệu tập hòa giải lần tiếp theo vào hồi 13 giờ 30 phút ngày 28/9/2018 (bút lục số 527 – 529).
Cùng ngày 29/8/2018, Tòa án nhân dân Quận 1 ra Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải gửi các đương sự thông báo tham gia phiên hòa giải và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 28/9/2018 (bút lục số 531). Đồng thời ngày 31/8/2018, Tòa án nhân dân Quận 1 đã lập biên bản tống đạt giấy triệu
5
tập và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bà C và các đương sự trong vụ án (bút lục số 539).
Ngày 28/9/2018, Tòa án nhân dân Quận 1 đã lập biên bản hòa giải và biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ có nội dung: Tại phiên họp, các đương sự cùng kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Các bên không có đơn xin photo tài liệu chứng cứ do bên kia giao nộp tại Tòa án nhân dân Quận 1, không có ý kiến gì thêm và không yêu cầu nộp thêm tài liệu, chứng cứ nào mới. Ngoài ra, do bà C, ông T, bà Đ, ông P và ông Đ2 vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án lập biên bản hòa giải không thành (bút lục số 540 – 542).
Xét thấy: Trong các ngày 19/9/2017 và ngày 08/5/2018 Tòa án nhân dân Quận 1 đã lập các biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các biên bản hòa giải. Đồng thời, Tòa án nhân dân Quận 1 ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2098/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/5/2018, thời gian mở phiên tòa vào lúc 8 giờ ngày 05/6/2018. Ngày 05/6/2018, Hội đồng xét xử sơ thẩm Tòa án nhân dân Quận 1 ra Quyết định hoãn phiên tòa, với lý do: Bà C, bà Đ có đơn xin thay đổi thẩm phán và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không lý do.
Hội đồng xét xử sơ thẩm ra Quyết định hoãn phiên tòa số 2742/2018/QĐST-DS ngày 05/6/2016, với lý do bà Chi, bà Điệp có đơn xin thay đổi thẩm phán thụ lý giải quyết vụ án là không đúng. Bởi vì, ngày 25/5/2018, Chánh án Tòa án nhân dân Quận 1 ban hành Quyết định giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng số 07/2018/QĐ-GQKN với nội dung: không chấp nhận đơn khiếu nại yêu cầu thay đổi Thẩm phán của bà C và bà Đ.
Về quy trình thủ tục tố tụng dân sự: Tòa án nhân dân Quận 1 đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử thì sau khi hoãn phiên tòa thì phải mở lại phiên tòa không quá một tháng theo quy định tại Điều 233 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đồng thời, không thể hiện việc Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để thu thập thêm chứng cứ theo quy định tại Điều 259 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tuy nhiên sau khi hoãn phiên tòa, Tòa án nhân dân Quận 1 ra Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 15/8/2018 và tại biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ do Tòa án nhân dân Quận 1 lập ngày 15/8/2018 có nội dung: các đương sự cùng kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Các bên không có đơn xin photo tài liệu chứng cứ do bên kia giao nộp tại Tòa án nhân dân Quận 1, không có ý kiến gì thêm và không yêu cầu nộp thêm tài liệu, chứng cứ nào mới. Ngoài ra, do ông P và ông Đ2 vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án lập biên bản hòa giải không thành, thông báo kết quả phiên họp đối chiếu chứng cứ và hòa giải cho các đương sự vắng mặt và đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Như vậy, về thủ tục tố tụng Tòa án nhân dân Quận 1 đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đảm bảo theo quy định tại Điều 208, 209, 210, 211 Bộ luật tố tụng dân sự.
6
Tại biên bản hòa giải do Tòa án nhân dân Quận 1 lập ngày 15/8/2015, bà C cam kết trong thời gian 10 ngày sẽ thanh toán xong số tiền 3.500.000.000 đồng cho ông K và số tiền còn phải thi hành án theo Quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu số 123/QĐ-CCTHA ngày 04/4/2012 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6 để nhận lại toàn bộ hồ sơ giấy tờ bản chính căn nhà F28 Cư xá PL B, Phường MB, Quận S và rút đơn yêu cầu khởi kiện tại Tòa án nhân dân Quận 1 (bút lục số 515 – 516). Tuy nhiên, bà Chi không thực hiện cam kết thì Tòa án phải ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định.
Tòa án nhân dân Quận 1 đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải 03 lần vào các ngày 19/9/2017, ngày 08/5/2018, ngày 15/8/2018 và tại biên bản phiên họp các đương sự cũng xác nhận đã cung cấp thêm chứng cứ nào mới, các đương sự cũng không có yêu cầu khởi kiện bổ sung, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập, không có thêm người tham gia tố tụng, đồng thời các đương sự yêu cầu đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân Quận 1 ra Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào các ngày 29/8/2018 và ngày 28/9/2018 (đã tống đạt cho các đương sự nguyên đơn bà C) là không cần thiết, vì thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đã được thực hiện và không có bổ sung gì khác. Như vậy, Tòa án nhân dân Quận 1 ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự với lý do nguyên đơn triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là không có căn cứ.
Do đó, bà C kháng cáo yêu cầu hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án nhân dân Quận 1 là có căn cứ, nên chấp nhận.
Đây là vụ án tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự là Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc theo quy định tại khoản 11 Điều 25; điểm a khoản 1 Điều 33; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011 (nay là khoản 13 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015). Do đó, yêu cầu kháng cáo của bà C, ông P, bà Đ, ông Đ2 về thẩm quyền giải quyết vụ án nơi bất động sản là không có căn cứ, nên không chấp nhận.
Tại phiên họp, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu: Ngày 08/5/2018, Tòa án nhân dân Quận 1 ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2098/QĐXXST-HNGĐ, thông báo thời gian mở phiên tòa vào lúc 8 giờ ngày 05/6/2018. Ngày 05/6/2018, Tòa án nhân dân Quận 1 ra Quyết định hoãn phiên tòa với lý do: Bà C và bà Đ có đơn yêu cầu thay đổi Thẩm phán thụ lý vụ án và bị đơn; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do. Đồng thời, thông báo thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa xét xử vụ án sẽ thông báo đến đương sự sau. Sau khi có quyết định hoãn phiên tòa, Tòa án nhân dân Quận 1 không tiến hành thông báo các đương sự thời gian mở lại phiên tòa và không thể hiện việc tạm ngừng phiên tòa để thu thập chứng cứ theo quy định tại Điều 259 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng Thẩm phán vẫn tiến hành mở lại phiên họp kiểm tra công khai chứng cứ và hòa giải, đây là các bước thực hiện trong quá trình chuẩn bị xét xử theo quy
7
định tại Điều 97 và 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân Quận 1 căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự là vi phạm thủ tục tố tụng dân sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà C, ông P, ông Đ, bà Đ. Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án nhân dân Quận 1.
Như đã nhận định trên đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ, nên chấp nhận.
Do hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nên bà C, ông P, bà Đ, ông Đ2 không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào điểm c khoản 5 Điều 314 Bộ luật tố tụng dân sự;
QUYẾT!ĐỊNH:!
1. Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 577/2018/QĐST-DS ngày 11/10/2018 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân Quận 1 để giải quyết vụ án theo trình tự thủ tục sơ thẩm.
2. Án phí phúc thẩm: Bà Đỗ Thị Kim C, ông Nguyễn Văn P, bà Nguyễn Đông Ngọc Đ, ông Nguyễn Phúc Đ2 không phải chịu.
Hoàn trả cho bà Đỗ Thị Kim C, ông Nguyễn Văn P, bà Nguyễn Đông Ngọc Đ, ông Nguyễn Phúc Đ2 mỗi người 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí theo các biên lai thu số 0023655 ngày 19/10/2018, số 0023662, số 0023660, số 0023661 cùng ngày 22/10/2018 cùng của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
Nơi!nhận:!
TM.!HỘI!ĐỒNG!PHÚC!THẨM!
- TAND TC;
THẨM!PHÁN!–!CHỦ!TỌA!PHIÊN!HỌP!
- TAND Cấp cao tại Tp.HCM
!
- VKSND TP.HCM;
- THA Quận 1;
- TAND Quận 1;
- Các đương sự;
!
- Lưu (T/.17)
Lê!Ngọc!Tường