- Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
- Căn cứ chính? Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 22 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Số: 82/QĐ-TA |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Trịnh Thị Ngọc Hà.
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.
Ngày 14 tháng 12 năm 2020, tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An
Giang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành
chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số
91/2020/TLHS ngày 08/12/2020 đối với:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1989; Giới tính: Nam;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 09, Khóm V, phường N, thành phố
K, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: Tổ 09, Khóm V, phường N, thành phố K, tỉnh
An Giang;
Nghề nghiệp: Không;
Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không;
Trình độ văn hóa: 9/12;
Tiền án: Không xác định.
Tiền sự: Ủy ban nhân dân phường N áp dụng biện pháp giáo dục tại xã,
phường, thị trấn, thời hạn 03 tháng kể từ ngày 10/01/2020, về hành vi sử dụng
trái phép chất ma túy, theo Quyết định số 06b/QĐ-UBND ngày 10/01/2020, đã
chấp hành xong từ ngày 10/04/2020.
Con ông Nguyễn Văn Dễ (chết) và bà Trần Thị Loan.
Có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Thanh Nhã – Cán bộ Phòng Lao
động - Thương binh và Xã hội thành phố K đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 87/UQ-LĐTBXH ngày 07/12/2020).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố K tham gia phiên họp: Ông
Nguyễn Minh Hoàng – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Theo Quyết định số 06b/QĐ-UBND ngày 10/01/2020 của Ủy ban nhân dân
phường N, Nguyễn Văn T bị Ủy ban nhân dân phường N áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn áp dụng 03 tháng. Theo Giấy chứng nhận số 26/GCN-UBND ngày 10/04/2020 của Ủy ban nhân dân phường N thì T đã chấp hành xong.
Ngày 04/11/2020, T bị Công an phường N, thành phố K xét nghiệm tìm chất
ma túy bên trong cơ thể T, kết quả dương tính chất Morphin và Methamphetamin. Công an phường N, lập biên bản về hành vi sử dụng ma túy trái phép đối với T.
Ngày 04/11/2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N, thành phố K ban
hành Quyết định số 202/QĐ-UBND về việc giao cho Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh An Giang quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T.
Ngày 04/11/2020, Công an phường N, thành phố K ban hành Thông báo số
13/TB-CAP về việc lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T. Đến ngày 09/11/2020, Nguyễn Văn T đã đọc, tài liệu, hồ sơ theo quy định và không có ý kiến nào khác nên Công an phường N lập biên bản ghi nhận.
Theo biên bản xác minh ngày 10/11/2020 do Công an phường N, thành phố K
lập có xác nhận của Trung tâm Y tế thành phố K, xác định Nguyễn Văn T không có đăng ký tham gia điều trị Methadone.
Ngày 04/11/2020, Ủy ban nhân dân phường N, thành phố K ban hành Đề nghị
số 163/ĐN-UBND đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố K xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T, nhằm giúp đỡ T có cơ hội cai nghiện, học nghề.
Theo Thông báo số 90/TB - PTP ngày 27/11/2020, Phòng Tư pháp thành
phố K đã kết luận, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Nguyễn Văn T bảo đảm về tính pháp lý.
Ngày 05/12/2020, Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố K
ban hành văn bản số 86/PLĐTBXH đề nghị Tòa án nhân dân thành phố K áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T với thời hạn tập trung từ 18 đến 24 tháng.
Tại phiên họp:
- Đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố K giữ
nguyên quan điểm đề nghị.
- Nguyễn Văn T thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy như hồ sơ thể
hiện và T xin được áp dụng thời gian cai nghiện thấp.
- Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên họp phát biểu quan điểm: Qua
kiểm sát việc giải quyết vụ việc từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Tòa án
đã thực hiện đúng quy định pháp luật tại Điều 3, Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều
10, Điều 11, Điều 12, Điều 14, Điều 16, Điều 17, Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ
tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân
dân năm 2014.
Căn cứ công văn đề nghị số 86 ngày 05/12/2020 của Phòng Lao động -
Thương binh và Xã hội thành phố K thì thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân
thành phố K theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh 09 ngày 20/01/2014. T
có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy lần cuối ngày 04/11/2020 Tòa án nhân
dân thành phố K thụ lý là còn thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6
Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
Nguyễn Văn T, sinh năm 1989 là người nghiện ma túy trên 18 tuổi, đã bị
áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường mà vẫn còn nghiện, nên đề nghị đưa T
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đủ điều kiện quy định tại Điều 95, 96 Luật xử
lý vi phạm hành chính năm 2012.
Đề nghị Toà án nhân dân thành phố K chấp nhận đề nghị áp dụng biện
pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T.
XÉT THẤY:
* Về tố tụng:
Hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố K
đúng quy định tại Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
* Về nội dung:
T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên đã bị Ủy ban nhân dân
phường N áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, thời hạn áp dụng
03 tháng, đã chấp hành xong vào ngày 10/04/2020.
Đến ngày 04/11/2020, T tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy,
kết quả xét nghiệm bên trong cơ thể T dương tính với chất ma túy loại Morphin
và Methamphetamin.
Tại phiên họp, T thừa nhận có sử dụng ma túy trước khi bị Công an phường
N, thành phố K mời về trụ sở để thử ma túy. Lời khai nhận của T phù hợp với các
kết quả xét nghiệm của cơ quan chuyên môn, lời khai của T tại tờ tường trình,
biên bản ghi lời khai do Công an phường N, thành phố K lập ngày 04/11/2020 và biên bản vi phạm hành chính do Công an phường N, thành phố K lập cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đề nghị.
Xét, T đã trên 18 tuổi, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đã bị
áp dụng biện pháp giáo dục tại phường, chấp hành xong nhưng vẫn tiếp tục sử dụng ma túy. Vì vậy, việc Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố K đề nghị đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đủ điều kiện theo quy định tại Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nên chấp nhận.
Về tình tiết giảm nhẹ và nhân thân: T có nhân thân xấu, đã từng bị xử lý
vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, tại phiên họp T thành khẩn khai báo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, nên có xem xét trong quá trình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với T.
Vì các lẽ trên,
Áp dụng Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 104, Điều 110, khoản 2
Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều 22, 23, 31 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
đối với Nguyễn Văn T, sinh năm 1989; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 09, Khóm V, phường Châu Phú A, thành phố K, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: Tổ 09, Khóm V, phường Châu Phú A, thành phố K, tỉnh An Giang.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám)
tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 04 tháng 11 năm 2020).
3. Thời hạn kiến nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành
phố K; kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố K là 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
Thời hạn khiếu nại của Nguyễn Văn T là 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa
án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,
kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an nhân dân thành phố K chủ trì phối
hợp với Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố K đưa Nguyễn Văn T vào Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - Trưởng Phòng LĐ, TB, XH TP. K; - Ủy ban nhân dân phường N; - Công an phường N; - Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy - TAG; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố; - Đội CSĐTTPMT-CA TP. K; - Công an TP. K; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Trịnh Thị Ngọc Hà |