- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Tuyên bố một người đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Lê Văn T và ông Lê Văn H. Tuyên bố bà Lê Thị X, sinh năm 1965, có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại: Thôn AT, xã AK, huyện HĐ, thành phố Hà Nội là người đã chết.
- Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 36 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 82/2021/QĐST-VDS; Ngày: 08/7/2021. |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
(V/v: Tuyên bố một người đã chết)
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Kim Anh.
- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Sinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Tiến Việt - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 7 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân nhân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 165/2020/TLST-VDS ngày 09/11/2020, về việc: Yêu cầu tuyên bố một người đã chết, theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số 09/2021/QĐST-VDS ngày 01/7/2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- Ông Lê Văn T, sinh năm 1965;
- Ông Lê Văn H, sinh năm 1970;
Cùng trú tại: thôn AT, xã AK, huyện HĐ, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Bà Lê Thị X, sinh năm 1965 có đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại: Thôn AT, xã AK, huyện HĐ, thành phố Hà Nội.
Bà X có bố là ông Lê Văn T, sinh năm 1921 (đã chết năm 1980), mẹ là bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1930 (đã chết năm 2017) và có 03 anh em trai là ông Lê Văn T, sinh năm 1956, ông Lê Văn H, sinh năm 1958 (đã chết năm 2010) và ông Lê Văn H, sinh năm 1970.
Năm 2002 bà X bỏ nhà đi biệt tích, không nói với ai về việc đi đâu, làm gì, không có mặt tại địa phương. Gia đình ông T, ông H đã nhiều lần tìm kiếm bằng nhiều biện pháp khác nhau nhưng không có bất kỳ tin tức gì về việc bà X còn sống hay đã chết.
Nay ông Lê Văn T và ông Lê Văn H yêu cầu Toà án tuyên bố bà Lê Thị X là người đã chết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội nhận định:
[I]. Ông Lê Văn T và ông Lê Văn H có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Lê Thị X là người đã chết là phù hợp với quy định tại 71 Bộ luật Dân sự 2015 và Điều 391 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
. Tại Công văn số 148/CV-CAX ngày 30/5/2021 của Công an xã AK và các tài liệu khác do Công an xã AK cung cấp thể hiện, bà X đã cắt khẩu tại địa phương, không rõ nơi chuyển đến và đi khỏi địa phương từ năm 2002, đến nay Công an xã không có tin tức gì về bà X.
. Toà án đã thực hiện việc đăng tin tìm kiếm bà Lê Thị X trên Đài Tiếng nói Việt Nam trong các ngày 20, 21 và 22 tháng 11 năm 2020; trên Báo Nhân dân trong 03 số báo liên tiếp vào các ngày 14, 15 và 15 tháng 11 năm 2020; trên cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội vào ngày 11/11/2020 nhưng đến nay vẫn không nhận được thông tin gì về bà X
[4]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức tham gia phiên họp đề nghị Toà án: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 27, khoản 4 Điều 143, 361, 362, 367, 369, 370, 371, 391, 392, 393 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 71, 72 của Bộ luật Dân sự, chấp nhận yêu cầu của bà Sửu, tuyên bố bà X là người đã chết.
. Từ những căn cứ trên, có đủ cơ sở khẳng định bà X đã biệt tích liên tục trong 18 năm, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc bà X còn sống hay đã chết. Do đó, ông T và ông H yêu cầu Toà án tuyên bố bà X là đã chết là có căn cứ nên được chấp nhận, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
. Về lệ phí: Ông Lê Văn T là người cao tuổi, thuộc đối tượng được miễn lệ phí nên được miễn nộp tiền lệ phí theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Ông Lê Văn H phải nộp lệ phí theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 4 Điều 27, khoản 4 Điều 143, 361, 362, 367, 369, 370, 371, 391, 392, 393 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ: Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ: Điều 36 và Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Lê Văn T và ông Lê Văn H. Tuyên bố bà Lê Thị X, sinh năm 1965, có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại: Thôn AT, xã AK, huyện HĐ, thành phố Hà Nội là người đã chết. Thời điểm chết của bà Lê Thị X là kể từ thời điểm Quyết định này có hiệu lực pháp luật.
2. Các quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản của bà Lê Thị X được giải quyết như đối với người đã chết theo quy định của Bộ luật Dân sự.
3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Lê Văn T được miễn toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Ông Lê Văn H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm, được vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số AA/2019/0000103 ngày 09/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Ông H đã nộp đủ lệ phí.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 07 (bảy) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội; - VKSND huyện Hoài Đức; - Chi cục THADS huyện Hoài Đức; - Các đương sự; - UBND xã AK; - Lưu HS. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Kim Anh |