- Tranh chấp gì? "Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị C- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị G đại diện theo
- Căn cứ chính? Điều 243 Luật Tố tụng hành chính; Điều 143 Luật Tố tụng hành chính; Điều 144 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 817/2022/QĐ-PT | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 9 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đinh Ngọc Thu Hương
Các Thẩm phán:
Ông Đỗ Đình Thanh
Ông Phạm Văn Công
Đại diện Viện kiểm sát cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Hồng Đào - Kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 29/2022/QĐST-HC ngày 10 tháng 6 năm 2022.
Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre đã căn cứ khoản 5 Điều 38; điểm b khoản 1 Điều 143; Điều 144 Luật Tố tụng hành chính quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về “Khiếu kiện quyết định hành chính” giữa:
- Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1956; Địa chỉ: Ấp X, xã X1, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của bà C: Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1970; Địa chỉ: Ấp X2, xã X3, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Võ Văn L, sinh năm 1975; Địa chỉ: Ấp X, xã X1, huyện B, tỉnh Bến Tre.
2. Ông Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1977; Địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện B1, tỉnh Bến Tre.
Tại đơn kháng cáo của người khởi kiện bà Nguyễn Thị C nộp qua đường bưu điện (dấu bưu điện nơi gửi ngày 21/6/2022) kháng cáo toàn bộ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 29/2022/QĐST-HC ngày 10 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
XÉT THẤY:
Tại biên bản làm việc ngày 19/4/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre, bà Nguyễn Thị C cho biết: Phần đất thửa 353, tờ bản đồ 15 trước đây đã có tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Ngọc M và ông Nguyễn Văn P1, bà C là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Ba Tri thụ lý giải quyết ngày 13/11/2017 và xét xử sơ thẩm theo Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2020/DS-ST ngày 06/02/2020. Sau khi xét xử sơ thẩm, bà C và ông P1 có kháng cáo và có đơn phản tố gửi cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri. Tại Thông báo số 06/TB-VKS-KT ngày 18/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri về việc thông báo và chỉ dẫn, có nội dung: Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri có nhận được đơn phản tố của bà C “Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho Nguyễn Ngọc M tại thửa đất 348 và 353 tờ bản đồ số 15 tọa lạc tại xã X1…”. Mặt khác, tại trang 4, Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2020/DS-ST ngày 06/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri; phần trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C có nêu “…đến năm 2016 thì M kêu P1 di dời nhà trả đất, bà C mới biết phần đất tranh chấp đã được Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà M1 và bà M1 chuyển nhượng thửa đất tranh chấp cho M.”. Đến ngày 02/3/2022, bà C mới có đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre. Đơn kháng cáo của bà C cho rằng bà tham gia vụ tranh chấp đất do ông Nguyễn Ngọc M khởi kiện đến ngày 22/4/2021 Tòa án nhân dân huyện B đình chỉ vụ án vì ông M rút đơn kiện.
Tại phiên họp phúc thẩm, bà Nguyễn Thị G đại diện theo ủy quyền của Nguyễn Thị C xin rút lại đơn kháng cáo và đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị C.
Việc rút đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị G đại diện theo ủy quyền của
Nguyễn Thị C là hoàn toàn tự nguyện.
Theo quy định tại Điều 55 và 56 của Luật Tố tụng hành chính thì việc rút
đơn là quyền của đương sự được quy định trong suốt quá trình tố tụng. Theo quy định tại Điều 243 Luật Tố tụng hành chính thì Hội đồng xét xử có quyền giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, sửa quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và hủy quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án.
Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính thì
người khởi kiện rút đơn khởi kiện trong trường hợp không có yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.
Quyền của đương sự được pháp luật quy định và việc Tòa án chấp nhận
việc rút đơn khởi kiện này không ảnh hưởng gì đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác.
Do đó, Hội đồng phúc thẩm chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của bà
Nguyễn Thị G đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị C, hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 29/2022/QĐST-HC ngày 10 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre, đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính thụ lý số 491/2022/TLPT-HC ngày 18/8/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp đề nghị.
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 143; điểm b khoản 1 Điều 234 và khoản
5, khoản 6 Điều 243 của Luật Tố tụng hành chính,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị G đại diện theo
ủy quyền của bà Nguyễn Thị C.
Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 29/2022/QĐST-HC ngày 10 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
Đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính thụ lý số 491/2022/TLPT-HC ngày 18/8/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bà Nguyễn Thị C được miễn án phí sơ thẩm.
3. Bà Nguyễn Thị C được miễn án phí phúc thẩm.
4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; - TAND tỉnh Bến Tre; - VKSND tỉnh Bến Tre; - Cục THADS tỉnh Bến Tre; - Đương sự; - Lưu (Án - Trúc). | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký tên và đóng dấu) Đinh Ngọc Thu Hương |