vanban.org

Quyết định 81/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Lê Chánh T (tên gọi khác: TR).

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 13 (mười ba) tháng kể từ ngày Tòa án công bố quyết định được trừ vào thời gian quản lý tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, từ ngày 19 tháng 3 năm 2024 đến ngày 06 tháng 5 năm 2024. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị và thời hạn khiếu nại, kiến ngh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lê Chánh T (TR) - Cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Lê Chánh T (tên gọi khác: TR).
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN X
TỈNH BÀ RỊA–VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 81/QĐ-TAX, ngày 06 tháng 5 năm 2024.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN X, TỈNH BÀ RỊA–VŨNG TÀU

Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Lê Bá Khuyến.

2. Thư ký phiên họp: Bà Danh Thị Ngọc Lệ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu.

Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 82/QĐ-TA, ngày 22 tháng 4 năm 2024 và Thông báo về việc chuyển ngày mở phiên họp số 197/TB-TA, ngày 26 tháng 4 năm 2024, đối với:

Họ và tên: Lê Chánh T (tên gọi khác: TR). Giới tính: Nam.

Sinh ngày 05 tháng 02 năm 1994.

Căn cước công dân số: 077094006…. Ngày cấp: 15/02/2023. Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý Hành chính về Trật tự Xã hội-Bộ Công an.

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: 6/12.

Nguyên quán: Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Nơi cư trú và nơi ở hiện tại: Ấp T, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Tiền án, tiền sự: Không.

Con ông: Lê Văn M, sinh năm 1966 và bà Trần Thị P, sinh năm 1968.

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện Cơ quan đề nghị: Ông Lê Văn Quỳnh. Chức vụ: Chuyên viên Phụ trách công tác phòng, chống tệ nạn xã hội thuộc Phòng Lao động–Thương binh và Xã hội huyện X, tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu (Văn bản ủy quyền số 755/PLĐTBXH, ngày 29 tháng 12 năm 2023).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện X, tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu: Bà Phạm Thị Lệ Thủy – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Phòng Lao động–Thương binh và Xã hội huyện X ban hành văn bản số 236/ĐN-CNBB, ngày 16/4/2024 về việc đề nghị Tòa án nhân dân huyện X xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu đối với anh Lê Chánh T về hành vi vi phạm như sau:

Tại bản tường trình và biên bản ghi lời khai ngày 19/3/2024 anh Lê Chánh T khai nhận, bản thân đang cư trú tại ấp T, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Thời gian bắt đầu sử dụng ma túy từ tháng 6 năm 2022, gần đây nhất là vào buổi tối ngày 17/3/2024 có sử dụng ma túy một mình tại nhà thuộc ấp T, xã B, huyện X. Do anh T có hành vi vi phạm và tự nguyện khai nhận nên ngày 19/3/2024, Công an xã B đã thực hiện xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với anh T, kết quả xét nghiệm cho thấy anh T dương tính với ma túy đá (Methamphetamine). Cùng ngày, Công an xã B đã có giấy đề nghị gửi đến Trạm Y tế xã B để đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy đối với anh T. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 19/3/2024 của Trạm Y tế xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xác định anh T có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là ma túy dạng đá (Methamphetamine). Sau khi có kết quả, xác định anh T có nghiện ma túy nhưng bản thân anh T không đăng ký và từ chối cai nghiện tự nguyện nên đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021. Vì vậy, ngày 19/3/2024 anh Lê Chánh T bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, huyện X lập biên bản số 30/BB-VPHC-CA về việc vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.

Từ những cơ sở và căn cứ nêu trên, ngày 22/3/2024 Công an xã B, huyện X đã có Thông báo số 95/TB-CAX về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 22/3/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, huyện X có văn bản số 42/ĐN-UBND, đề nghị xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T và giao cho ông Lê Văn M, sinh năm 1966 là cha ruột quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, ông M không đồng ý quản lý và đã xác nhận bằng văn bản nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, huyện X căn cứ điểm a khoản 2 Điều 131 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và khoản 2 Điều 45 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 21/12/2021 giao anh T cho Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu quản lý từ ngày 19/3/2024 đến khi có quyết định của Tòa án.

Sau khi nhận được hồ sơ đề nghị của cơ quan lập hồ sơ, Trưởng phòng Lao động–Thương binh và Xã hội huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu kiểm tra, đối chiếu thành phần hồ sơ đề nghị theo quy định tại Điều 41 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ và chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân huyện X xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại phiên họp:

- Đại diện Cơ quan đề nghị trình bày nội dung đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Sau khi có Thông báo của Công an xã B và Đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, huyện X. Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội huyện X nhận thấy, anh Lê Chánh T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy thì anh T nghiện ma túy, loại ma túy dạng đá (Methamphetamine) và đã bị cơ quan có thẩm quyền lập biên bản vi phạm. Anh T được xác định là người có nơi cư trú ổn định nên thuộc đối tượng quy định tại Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Vì vậy, đề nghị Tòa án nhân dân huyện X xem xét ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T một thời gian, giúp anh T trở thành người có ích cho xã hội. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc từ 12 đến 14 tháng.

- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với anh Lê Chánh T là đầy đủ và đúng quy định. Việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T là cần thiết, đề nghị Tòa án xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa anh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như đề nghị của đại diện Phòng Lao động–Thương binh và Xã hội huyện X.

- Người bị đề nghị trình bày ý kiến về nội dung đề nghị của Cơ quan đề nghị: Anh Lê Chánh T thừa nhận sử dụng ma túy nhiều lần, thời gian bắt đầu sử dụng ma túy từ tháng 6 năm 2022, gần đây nhất là vào buổi tối ngày 17/3/2024 có sử dụng ma túy một mình tại nhà thuộc ấp T, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Loại ma túy sử dụng là ma túy dạng đá (Methamphetamine) và đề nghị Tòa án xem xét giảm thời gian chấp hành.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và nghe lời trình bày của Cơ quan đề nghị; Người bị đề nghị tại phiên họp và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp.

XÉT THẤY:

1. Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị:

- Thời hiệu giải quyết: Ngày 19/3/2024, anh Lê Chánh T bị cơ quan có thẩm quyền lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Ngày 06/5/2024, Tòa án mở phiên họp xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T là còn trong thời hiệu, theo quy định tại Điều 6 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

- Thẩm quyền giải quyết: Thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu theo quy định tại Điều 3 của Pháp Lệnh về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân và khoản 2 Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

- Trình tự, thủ tục lập hồ sơ: Sau khi xác định anh Lê Chánh T là người nghiện ma túy có nơi cư trú ổn định nhưng gia đình không đồng ý quản lý và đại diện gia đình đã xác nhận bằng văn bản. Cơ quan có thẩm quyền đã tiến hành thủ tục lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại các Điều 40, 41, 42, 43, 44 và 45 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ và Điều 103 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

2. Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm:

Anh Lê Chánh T thừa nhận toàn bộ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình. Lời khai của anh T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và phần trình bày của Cơ quan đề nghị. Xác định, vào ngày 17/3/2024 anh T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đã tự nguyện khai nhận nên đến ngày 19/3/2024, Công an xã B đã thực hiện xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với anh T, kết quả cho thấy anh T dương tính với ma túy. Căn cứ Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm Y tế xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu ngày 19/3/2024 thì anh Lê Chánh T, sinh ngày 05/02/1994 có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là Methamphetamine (ma túy dạng đá). Như vậy, hành vi của anh T đã vi phạm Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021.

3. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

- Tình tiết tăng nặng: Không.

- Tình tiết giảm nhẹ: Anh Lê Chánh T đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) xem xét giảm nhẹ một phần mức thời gian áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

4. Nhân thân: Không.

5. Mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng:

Anh Lê Chánh T biết rõ ma túy, loại Methamphetamine (ma túy dạng đá) là chất gây nghiện, có sức tàn phá đối với sức khỏe, gây ảnh hưởng xấu đến gia đình và xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi vi phạm. Đồng thời, anh T cũng nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình là xâm phạm trực tiếp đến quản lý Nhà nước về phòng, chống ma túy.

6. Ý kiến của người tham gia phiên họp:

- Cơ quan đề nghị: Đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Lê Chánh T.

- Người bị đề nghị: Đồng ý với ý kiến của Cơ quan đề nghị.

7. Lý do, căn cứ áp dụng:

- Lý do áp dụng: Phòng Lao động–Thương binh và Xã hội huyện X đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Lê Chánh T là cần thiết để quản lý cắt cơn, giải độc, phục hồi sức khỏe và tư vấn tâm lý. Đồng thời, làm giảm tác hại liên quan đến hành vi sử dụng trái phép chất ma túy gây ra cho bản thân, gia đình và cộng đồng.

- Căn cứ áp dụng: Căn cứ vào các Điều 3, 6, 7, 9, 95, 96, 103, 104, 105, 110 và 131 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; các Điều 2, 3, 8, 9, 17, 18, 20, 21, 23, 24, 25, 30, 31, 32, 33 và 34 của Pháp Lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; các Điều 40, 41, 42, 43, 44 và Điều 45 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Lê Chánh T (tên gọi khác: TR).

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 13 (mười ba) tháng kể từ ngày Tòa án công bố quyết định được trừ vào thời gian quản lý tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, từ ngày 19 tháng 3 năm 2024 đến ngày 06 tháng 5 năm 2024.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị và thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị:

Thời hạn khiếu nại của người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định;

Thời hạn kiến nghị của Cơ quan đề nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động–Thương binh và Xã hội huyện X, tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu phối hợp với Công an huyện X, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ