vanban.org

Quyết định 81/2023/QĐST-HNGĐ — Các yêu cầu dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng

TAND TP. Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 07/06/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Việt T, chị Hồ Thị Cẩm T1 về việc yêu cầu xác định con cho cha mẹ.

Xác định cháu Nguyễn Thiên P, sinh ngày 17/7/2017 theo giấy khai sinh số 44/2017 ngày 15/9/2017 của UBND xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi - là con đẻ của anh Nguyễn Việt T, sinh năm 1997 và chị Hồ Thị Cẩm T1, sinh năm 1997. Nơi cư trú: Thôn 3, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. Tạm trú: Số 366/31/30/10 đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Các yêu cầu dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng — án dân sự — "Yêu cầu xác định con cho cha mẹ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Việt T, chị Hồ Thị Cẩm T1 về việc yêu cầu xác định con cho cha mẹ.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 81/2023/QĐST-HNGĐTP. Quảng Ngãi, ngày 07 tháng 6 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v “Yêu cầu xác định con cho cha mẹ”

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Chí Thương

Thư ký phiên họp: Ông Vũ Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi tham gia phiên họp: Bà Hoàng Thị Thương Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 138/2023/TLST - HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2023 về việc “Yêu cầu xác định con cho cha mẹ” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 78/2023/QĐST-VDS ngày 15 tháng 5 năm 2023 và Thông báo về việc mở lại phiên họp số 128/TB-TA ngày 31/5/2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

- Anh Nguyễn Việt T, sinh năm 1997; chị Hồ Thị Cẩm T1, sinh năm 1997; Cùng trú tại: Thôn 3, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.

Tạm trú: Số 366/31/30/10 đường N, phường Q, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1990. Địa chỉ: Số 275/111/6A, đường Q, phường Y, quận G, thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 20/3/2023,bản tự khai ngày 17/4/2023 và ý kiến trình bày tại phiên họp, người yêu cầu anh Nguyễn Việt T, chị Hồ Thị Cẩm T1 trình bày:

Năm 2017, chúng tôi quen nhau và có quan hệ tình cảm, sau đó chị Hồ Thị Cẩm T1 mang bầu sinh được cháu Nguyễn Thiên P. Vào thời điểm đó chúng tôi đang là sinh viên, sống phụ thuộc vào gia đình nên không đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng cháu nên chúng tôi đã gửi cháu cho chị Nguyễn Thị N chăm sóc, nuôi dưỡng. Sau khi nhận nuôi, chị N có đăng ký khai sinh cho cháu tên là Nguyễn Thiên P, sinh ngày 17/7/2017 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi và được UBND xã T cấp giấy khai sinh số 44/2017 ngày 15/9/2017.

Nay chúng tôi đã ra trường, có công việc ổn định và đã đăng ký kết hôn vào ngày 31/8/2022 tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. Chúng tôi có nguyện vọng nhận lại cháu Nguyễn Thiên P để nuôi dưỡng và cho cháu nhận cha mẹ ruột. Chúng tôi có trao đổi nguyện vọng và chị Nguyễn Thị N đã đồng ý, tự nguyện giao lại cháu P cho vợ chồng tôi chăm sóc, nuôi dưỡng, không có khiếu nại, tranh chấp gì với vợ chồng chúng tôi.

Tại thời điểm năm 2017, vợ chồng chúng tôi gửi con cho chị Nguyễn Thị N nuôi dưỡng chứ không làm thủ tục cho, nhận nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật. Do đó, chị Nguyễn Thị N cũng không được UBND xã T cấp giấy chứng nhận nuôi con nuôi và không đăng ký hộ tịch.

Hiện nay cháu Nguyễn Thiên P đang sống cùng với vợ chồng tôi. Nhằm tạo điều kiện cho vợ chồng chúng tôi có cơ sở làm lại Giấy khai sinh cho cháu và giúp cháu Nguyễn Thiên P có đủ giấy tờ để làm thủ tục nhập học, làm các giấy tờ pháp lý khác sau này. Do đó, chúng tôi đề nghị Tòa án xem xét và giải quyết: Xác định cháu Nguyễn Thiên P, sinh ngày 17/7/2017 là con ruột của chúng tôi là Nguyễn Việt T và Hồ Thị Cẩm T1.

- Tại bản tự khai ngày 25/5/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị N trình bày:

Năm 2017, anh Nguyễn Việt T và chị Hồ Thị Cẩm T1 khi đó đang còn là sinh viên có sinh cháu Nguyễn Thiên P, do không có điều kiện nuôi dưỡng nên anh T, chị T1 có năn nỉ gửi cháu cho tôi nuôi dưỡng. Tôi có nhận nuôi cháu và đăng ký khai sinh cho cháu tên Nguyễn Thiên P, sinh ngày 17/7/2017; đăng ký vào ngày 15/9/2017 tại UBND xã T, huyện T. Tôi chỉ nhận nuôi cháu chứ không làm thủ tục nhận nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật. Năm 2022, anh T và chị T1 sau khi đăng ký kết hôn có liên hệ với tôi để xin lại cháu Nguyễn Thiên Phúc để nuôi dưỡng và cho cháu nhận cha mẹ. Tôi đồng ý và đã tự nguyện giao cháu P cho anh T và chị T1. Hiện nay, cháu đang sinh sống ở chùng với anh T, chị T1. Tôi không tranh chấp hay khiếu nại gì về việc giao lại con cho anh T, chị T1.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên họp:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý đến trước khi họp giải quyết việc dân sự, Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Người yêu cầu đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Việt T, chị Hồ Thị Cẩm T1: Xác định cháu Nguyễn Thiên P, sinh ngày 17/7/2017 là con đẻ của anh T, chị T1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Việt T, chị Hồ Thị Cẩm T1 yêu cầu Tòa án xác định cháu Nguyễn Thiên P là con ruột của mình. Do đó, quan hệ pháp luật khi giải quyết việc dân sự là “Yêu cầu xác định con cho cha mẹ” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi theo quy định tại khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu của anh Nguyễn Việt T, chị Hồ Thị Cẩm T1 thấy rằng:

Năm 2017, anh T và chị T1 khi còn đang là sinh viên có quan hệ tình cảm và sinh cháu Nguyễn Thiên P. Sau khi sinh, vì điều kiện, hoàn cảnh nên anh T, chị T1 có gửi con chung là cháu P cho chị Nguyễn Thị Nt chăm sóc, nuôi dưỡng và được chị N đồng ý. Chị N nhận nuôi và có đăng ký khai sinh cho cháu tên Nguyễn Thiên Pc, sinh ngày 17/7/2017 tại UBND xã T, huyện T theo giấy khai sinh số 44/2017 ngày 15/9/2017 của UBND xã T, huyện T, thể hiện chị Nguyễn Thị N là mẹ cháu P.

Ngày 31/8/2022, anh T và chị T1 có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; Anh T và chị T1 có nguyện vọng được nhận lại con của mình để nuôi dưỡng và được chị Nguyễn Thị N đồng ý. Chị N đã giao lại cháu Nguyễn Thiên P cho anh T, chị T1 nuôi dưỡng. Chị N không có tranh chấp hay yêu cầu gì đối với vợ chồng anh T, chị T1.

Ngày 19/4/2023, Tòa án đã có Quyết định trưng cầu giám định (AND) số 89/2023/QĐ-TCGĐ và tại Kết luận giám định số 41/KL-KHHS ngày 26/4/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: “Nguyễn Thiên P là con đẻ của Hồ Thị Cẩm T1 với Nguyễn Việt T”

Như vậy, yêu cầu của anh T, chị T1 phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ việc, phù hợp với kết luận giám định và lời trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tòa án có đủ cơ sở để xác định cháu Nguyễn Thiên P là con đẻ của anh Nguyễn Việt T và chị Hồ Thị Cẩm T1.

Tại Công văn số 80/UBND ngày 25/5/2023 của UBND xã T, huyện T về việc cung cấp xác minh thông tin cho Tòa án xác định: Ngày 15/9/2017, UBND xã T có đăng ký khai sinh cho cháu Nguyễn Thiên P, sinh ngày 17/7/2017. Tại thời điểm năm 2017 chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1990; Quê quán: Xã T , huyện S, tỉnh Quảng Ngãi không làm thủ tục nhận nuôi con nuôi, đăng ký việc nuôi con nuôi nên UBND xã T không cấp giấy chứng nhận nuôi con nuôi và ghi vào sổ hộ tịch theo Luật nuôi con nuôi. Như vậy, Tòa án có cơ sở xác định chị Nguyễn Thị N nhận nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thiên P nhưng không đăng ký nhận nuôi con nuôi theo Luật nuôi con nuôi 2010 nên giữa chị N và cháu P chưa phát sinh quan hệ mẹ nuôi, con nuôi theo quy định của pháp luật.

Về chi phí giám định: Chi phí giám định gen ADN là 12.543.000đồng, anh T, chị T1 tự nguyện chịu và đã tạm ứng, chi phí xong.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Việt T, chị Hồ Thị Cẩm T1 được miễn nộp lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp là phù hợp với nhận định của Tòa án, nên chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t, khoản 2 Điều 39, Điều 361, 367, 369, 370, 371, 372 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 88, 89, 101, 102 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Việt T, chị Hồ Thị Cẩm T1 về việc yêu cầu xác định con cho cha mẹ.

- Xác định cháu Nguyễn Thiên P, sinh ngày 17/7/2017 theo giấy khai sinh số 44/2017 ngày 15/9/2017 của UBND xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi - là con đẻ của anh Nguyễn Việt T, sinh năm 1997 và chị Hồ Thị Cẩm T1, sinh năm 1997. Nơi cư trú: Thôn 3, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. Tạm trú: Số 366/31/30/10 đường N, phường Q, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

2. Về chi phí giám định: Chi phí giám định gen ADN là 12.543.000đồng, anh Nguyễn Việt T, chị Hồ Thị Cẩm T1 tự nguyện chịu và đã tạm ứng, chi phí xong.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Việt T, chị Hồ Thị Cẩm T1 được miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo Quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày ban hành quyết định; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày Quyết định được thông báo, niêm yết. Quyết định này có thể bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ