vanban.org

Quyết định 81/2020/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 319/2020/TLST-HNGĐ ngày 02

tháng 7 năm 2020, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” giữa: Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Ngọc M- sinh năm 1985 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 319/2020/TLST-HNGĐ ngày 02
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 81/2020/QĐST-HNGĐ

Định Quán, ngày 31 tháng 8 năm 2020

HUYỆN ĐỊNH QUÁN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

Căn cứ vào các điều 48, 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm;

Xét thấy: Người khởi kiện là chị Bùi Thị Ngọc M rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 319/2020/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2020, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” giữa: Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Ngọc M- sinh năm 1985 HKTT: Tổ 4, ấp 2, xã Thanh Sơn, huyện Định Quán, Đồng Nai. Bị đơn: Anh Đỗ Thế D- sinh năm 1981 HKTT: Tổ 4, ấp 2, xã Thanh Sơn, huyện Định Quán, Đồng Nai. 2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án: Đương sự có quyền khởi kiện lại vụ án theo quy định của pháp luật. Về án phí: Chị Bùi Thị Ngọc M được trả lại số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị Mai đã nộp ngày 02/7/2020 theo biên lai số 0005253 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai. 3. Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 07 (bảy) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ