- Tranh chấp gì? "Nguyễn Thị T - UBND huyện Đ"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị T đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 13/2019/QĐST-HC ngày 28 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đ.
- Căn cứ chính? Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 123 Luật tố tụng hành chính; Điều 144 Luật tố tụng hành chính
| TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 800/2019/QĐ-PT | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 11 năm 2019. |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Phạm Văn Công
Các Thẩm phán:
Ông Đặng Văn Thành
Bà Đinh Ngọc Thu Hương
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Minh Sơn - Kiểm sát viên cao cấp.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 13/2019/QĐST-HC ngày 28 tháng 6 năm 2019;
Tòa án nhân dân tỉnh Đ đã căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 123, điểm g, h khoản 1 Điều 143, Điều 144 Luật tố tụng hành chính quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về “Khiếu kiện hành vi không giải quyết bồi thường khi thu hồi đất”, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện:
+ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1957;
Địa chỉ: 34A, Phố 1, ấp 1, xã Phú Vinh, huyện Đ, tỉnh Đ.
+ Ông Thòng Xường D, sinh năm 1962 (đã chết);
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Thòng Xường D:
+ Thòng Nhịt N, sinh năm 1977;
Địa chỉ: 180, Đại Mỗ, khu Dương Mai, huyện Đào Viên, Đài Loan – Trung Quốc.
+ Thòng Cọt D1, sinh năm 1979;
Địa chỉ: Số 05, ngõ 7, hẻm 478, đoạn 1 lộ Dân Hữu, Khóm 1, làng Viên Bản, thành phố Dương Mai, huyện Đào Viên, Đài Loan – Trung Quốc.
+ Thòng Cắm M, sinh năm 1982;
Địa chỉ: Lầu 2, số 94, đường Diên Hòa, Khóm 5, làng An Hòa, Thổ Thành, huyện Đài Bắc, Đài Loan – Trung Quốc.
+ Thòng Cọt V, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Số 17, ngõ 15, hẻm Mai Cương, lộ Mai Cao, Khóm 5, làng Cao Sơn, khu Dương Mai, thành phố Đào Viên, Đài Loan – Trung Quốc.
+ Thòng Cọt M1, sinh năm 1986;
Địa chỉ: Lầu 2/3, Số 34, ngõ 45, hẻm 390, đoạn 1 lộ Trung Sơn Bắc, Khóm 12, làng Dương Minh, khu Dương Mai, thành phố Đào Viên, Đài Loan – Trung Quốc.
+ Thòng Lày C, sinh năm 1988;
Địa chỉ: Số 02, ngõ 93, hẻm 431, đoạn 2 lộ Mai Cao, Khóm 18, làng Cao Thượng, thành phố Dương Mai, huyện Đào Viên, Đài Loan – Trung Quốc.
Người đại diện hợp pháp của Thòng Nhịt N, Thòng Cọt D1, Thòng Cắm M, Thòng Cọt V, Thòng Cọt M1, Thòng Lày C: Bà Nguyễn Thị T (Người khởi kiện).
+ Anh Thòng Hùng T1, sinh năm 1992;
+ Chị Thòng Diễm H, sinh năm 1994;
Cùng địa chỉ: 34A, Phố 1, ấp 1, xã Phú Vinh, huyện Đ, tỉnh Đ.
Người đại diện hợp pháp của Thòng Hùng T1, Thòng Diễm H:
Chị Nguyễn Anh T2, sinh năm 1990;
Địa chỉ: Số 02 Ái Quốc, phường Tân Tiến, thành phố B, tỉnh Đ.
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đ;
Tại đơn kháng cáo ngày 30/7/2019, người khởi kiện bà Nguyễn Thị T kháng cáo với lý do bà đã khiếu kiện liên tục từ năm 2006 đến nay nhưng không được giải quyết.
XÉT THẤY:
Năm 2004, bà Nguyễn Thị T và ông Tày Tú T3 tranh chấp thửa đất số 16, diện tích 421,4 m2, tờ bản đồ số 51 xã Phú Vinh nhưng bà Nguyễn Thị T và ông Tày Tú T3 đều không chứng minh được nguồn gốc và quá trình quản lý sử dụng đất tranh chấp là của mình. Do đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ ban hành Quyết định số 1416/QĐ-UBND.NC ngày 31/5/2006 thu hồi 421,4 m2 đất thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 51 xã Phú Vinh giao cho Ủy ban nhân dân xã Phú Vinh quản lý; Trong năm 2006, bà Nguyễn Thị T biết được nhưng không khiếu nại hoặc khởi kiện, nên Quyết định số 1416/QĐ-UBND.NC ngày 31/5/2006 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, bà Nguyễn Thị T và ông Thòng Xường D không phải là chủ sử dụng hợp pháp thửa đất số 16, diện tích 421,4 m2, tờ bản đồ số 51 xã Phú Vinh, không phải là người có quyền, lợi ích hợp pháp chịu tác động trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân huyện Đ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ đối với thửa đất số 16, diện tích 421,4 m2, tờ bản đồ số 51 xã Phú Vinh nên không có quyền yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện Đ bồi thường, hỗ trợ thiệt hại về đất đối với 421,4 m2 đất thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 51 xã Phú Vinh.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ cũng đã ban hành Công văn số 608/UBND-NC ngày 31/5/2005 trả lời không đủ điều kiện thụ lý đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thị T là đúng quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số 67/1999/NĐ-CP ngày 07/8/1999 của Chính Phủ.
Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án theo đơn khởi kiện đề ngày 18/10/2017 của bà Nguyễn Thị T và ông Thòng Xường D yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đ giải quyết buộc Ủy ban nhân dân huyện Đ ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại và giải quyết bồi thường, hỗ trợ thiệt hại về đất đối với 421,4 m2 đất thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 51 xã Phú Vinh là đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 123 và điểm h khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính năm 2015.
Do đó không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị T và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.
Bà Nguyễn Thị T là người cao tuổi nên được miễn án phí hành chính phúc thẩm.
Căn cứ vào Điều 243 của Luật tố tụng Hành chính;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị T đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 13/2019/QĐST-HC ngày 28 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đ.
2. Bà Nguyễn Thị T được miễn án phí hành chính phúc thẩm và được hoàn trả tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu số 005479 ngày 08/8/2019 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đ.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.
TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại TP.HCM - Tòa án nhân dân tỉnh Đ - VKSND tỉnh Đ - Các đương sự - Lưu HS, VP | Phạm Văn Công Thụ lý số 253/TLPT-HC ngày 20/3/2019 |