vanban.org

Quyết định 80/2026/QĐST-DS — Các tranh chấp khác

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Võ Thị H, sinh năm 1976 Địa chỉ: A đường Đ, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Các tranh chấp khác — án dân sự — "Võ Thị Hương - Phan Văn Vũ - Tranh chấp hợp đồng đặt cọc"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 80/2026/QĐST-DSThành phố Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 5 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ Điều 212 và Điều 213 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào biên bản hòa giải thành ngày 18 tháng 5 năm 2026 về việc các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án dân sự thụ lý số: 207/2026/TLST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2026.

XÉT THẤY:

Các thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản hòa giải thành về việc giải quyết toàn bộ vụ án là tự nguyện; nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Võ Thị H, sinh năm 1976

Địa chỉ: A đường Đ, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Phan Văn V, sinh năm 1972

Địa chỉ: 1 đường Đ, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

2.1. Ông Phan Văn V và bà Võ Thị H đều xác nhận ngày 31-7-2019, ông V và bà H có ký kết hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.

2.2. Ông Phan Văn V và bà Võ Thị H thống nhất: Hủy hợp đồng đặt cọc ngày 31-7-2019 về việc đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bà Võ Thị H và ông Phan Văn V.

2.3. Ông Phan Văn V xác nhận đã nhận 400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng) tiền đặt cọc của bà Võ Thị H. Ông V đồng ý và có trách nhiệm trả lại cho bà Võ Thị H số tiền đã nhận là 400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng) và tiền lãi phát sinh từ số tiền gốc 400.000.000đ từ ngày nhận tiền đến ngày hôm nay là 137.500.000đ (Một trăm ba mươi bảy triệu, năm trăm ngàn đồng), tổng cộng là 537.500.000đ (Năm trăm ba mươi bảy triệu, năm trăm ngàn đồng).

2.4. Về thời hạn thanh toán: Ông V có trách nhiệm trả tiền cho bà H làm 02 (hai) lần:

+ Lần 1: vào ngày 18-7-2026, ông V có trách nhiệm trả cho bà H số tiền 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng).

+ Lần 2: vào ngày 18-9-2026, ông V có trách nhiệm trả bà H số tiền 337.500.000đ (Ba trăm ba mươi bảy triệu, năm trăm ngàn đồng).

Hết ngày 18-7-2026 là ngày thanh toán lần thứ nhất, ông Phan Văn V không thanh toán hoặc thanh toán không đúng cam kết thì ông V còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2.5. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phan Văn V tự nguyện chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 12.750.000 đồng (Mười hai triệu, bảy trăm năm mươi ngàn đồng).

H1 lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 12.700.000đ (Mười hai triệu, bảy trăm ngàn) đồng cho bà Võ Thị H theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0017579 ngày 23 -03 -2026 của Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ