- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "Quyết định phúc thẩm Nguyên Công T - Công ty cổ phần V sản xuất thức ăn gia súc."
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Vũ Ngọc A. Giữ nguyên Quyế t đị nh đình ch ỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 23/2019/QĐST-LĐ ngày 05 tháng 9 năm 2019 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hò a.
- Căn cứ chính? Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 18/2020/QĐ-PT | Đồng Nai, ngày 26 tháng 6 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈ NH ĐỒ NG NAI
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp:Ông Trầ n Phương Đông
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễ n Trung Hưng
Bà Nguyễ n Thị Lệ Trang
Tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 23/2019/QĐST-LĐ ngày 05 tháng 9 năm 2019.
Toà án nhân dânthành phố Biên Hò a đã căn cứ vào các Điều 48, 217, 218, 219, khoản 2 Điề u 273 Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự và khoả n 2 Điề u 202 Bộ luậ t lao độ ng năm 2013 quyết định đình chỉgiải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp đơn phương chấ m dứ t hợ p đồ ng lao độ ng” giữa:
Nguyên đơn: Ông Nguyễ n Công T, sinh năm 1969.
Địa chỉ: 161C, ấp Nội H, xã B, huyện D, tỉnh B.
Ngườ i đạ i diệ n theo ủ y quyề n : Ông Vũ Ngọ c A, sinh năm 1980 (Văn bả n ủy quyền vào ngày 22/5/2020).
Đị a chỉ : Số 1131B, tổ 14, ấp H, phường P, thành phố B, tỉnh Đ.
Bị đơn: Công ty cổ phầ n V sản xuất thức ăn gia súc.
Địa chỉ: Đường số 9, KCN B, phường A, thành phố B, tỉnh Đ.
Ngườ i đạ i diệ n theo phá p luậ t: Ông Phạ m Trung L, sinh năm 1973 - Chứ c vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổ ng giá m đố c.
Ngườ i đạ i diệ n theo ủ y quyề n:
1.Ông Đỗ Xuân L – NV. Công ty cổ phầ n V sản xuất thức ăn gia súc.
Địa chỉ: Đường số 9, KCN B, phường A, thành phố B, tỉnh Đ.
2.Ông Trương Hồ ng K.
Đị a chỉ : Số 277,đường 30/4, phường Q, thành phố B, tỉnh Đ.
(Theo Văn bả n ủ y quyề n ngà y 10/9/2018).
Tại đơn kháng cáo ngày 17 tháng 9 năm 2019, ông Vũ Ngọ c A là người đạ i diệ n theo ủ y quyề n củ a ông Nguyễ n Công T đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai hủy Quyết đị nh đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 23/2019/QĐST-LĐ ngày 05 tháng 9 năm 2019 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hò a và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa tiếp tục giải quyết vụ án với lý do Tòa án nhân dân thành phố Biên Hò a á p dụ ng điể m e khoả n 1 Điề u 217 Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự để đình chỉ giải quyết vụ án là không đú ng.
XÉT THẤY:
Về thủ tục tố tụng:
Trướ c khi mở phiên họ p, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã tiế n hà nh lậ p Biên bả n là m việ c vớ i cá c bên đương sự để ghi nhậ n ý kiế n về việ c khá ng cá o của nguyên đơn; cũng như đã nhận được Đơn trình bày của người đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phầ n V sản xuất thức ăn gia súc vào ngày 19/6/2020 và Bản ý kiến vào ngày 27/5/2020 của người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễ n Công T . Do đó , Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai căn cứ vào Điểu 314 Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự , xét thấy không cần thiết phả i triệ u tậ p cá c đương sự tham gia phiên họ p.
Về nộ i dung Đơn khá ng cá o củ a nguyên đơn:
- Ông Nguyễ n Công T và Công ty cổ phần V sản xuất thức ăn gia súc ký Hợ p đồ ng lao độ ng không xá c đị nh thờ i hạ n lầ n đầ u vào ngày 01/9/1996 và ký lại lầ n 2 vào ngày 01/02/2008 (do Công ty thay đổ i mô hì nh hoạ t độ ng từ liên doanh sang cổ phầ n nên ký lạ i hợ p đồ ng lao độ ng ). Quá trình làm việc thì đến ngày 19/4/2016, Công ty cổ phầ n V sản xuất thức ăn gia súc có Quyết định số 52/QĐTV-PRO về việ c chấ m dứ t Hợ p đồ ng lao độ ng vớ i ông Nguyễ n Công T vớ i lý do “căn cứ và o đơn xin thôi việ c ngà y 14/4/2016 và nguyện vọng của ông Nguyễ n Công Thắ ng”. Đến ngày 20/4/2016, ông Nguyễ n Công T đượ c Công ty cổ phầ n V sản xuất thức ăn gia súc thông báo chấm dứt hợp đồng lao động theo Quyế t đị nh củ a Công ty hay nó i cá ch khá c là ngay sau khi đượ c Công ty thông báo có Quyết định cho nghỉ việc vào ngày 20/4/2016, ông Nguyễ n Công T đã biế t „quyề n lợ i củ a mì nh bị xâm phạ m” , bị cho thôi việc với lý do “căn cứ vào đơn xin thôi việ c ngà y 14/4/2016 và nguyện vọng của ông Nguyễn Công T” chứ không phả i ch o nghỉ việ c “do tá i cơ cấ u” . Theo quy đị nh tạ i khoả n 2 Điề u 202 Bộ luậ t lao độ ng thì “Thờ i hiệ u yêu cầ u Tò a á n giả i quyế t tranh chấ p lao độ ng cá nhân là 01 năm, kể từ ngà y phá t hiệ n ra hà nh vi mỗ i bên tranh chấ p cho rằ ng quyền, lợ i í ch hợ p phá p củ a mì nh bị vi phạ m” . Như vậy, vào ngày 20/4/2016, ông Nguyễ n Công T đã biế t “quyề n lợ i củ a mì nh bị xâm phạ m” , không phả i cho thôi việ c “do tá i cơ cấ u” nên thờ i hiệ u khở i kiệ n đượ c tí nh từ ngà y
20/4/2016 nhưng đế n ngà y 09/7/2018, ông Nguyễ n Công T mớ i là m đơn khở i kiệ n đến Tòa án nhân dân thành phố Biên Hò a là quá thời hiệu quy định (Tòa án cấ p sơ thẩ m xác định thời hiệu khởi kiện đượ c tí nh từ ngày 06/4/2017 là chưa chính xác);
- Trong thư khiế u nạ i lầ n 3 vào ngày 06/4/2017, ông Nguyễ n Công T đã nêu rõ : “Tạ i sao trong Quyế t đị nh chấ m dứ t Hợ p đồ ng lao độ ng số 52/QĐTV-PRO ngà y 19/4/2016 mà Công ty ban hành cho tôi nghỉ việc , trong phầ n căn cứ lại ghi là căn cứ và o đơn xin thôi việ c củ a tôi và o ngà y 14/4/2016, trong khi đó tôi chưa bao giờ có đơn xin thôi việ c gử i đế n P ; Khi P ban hà nh 52/QĐTV-PRO ngày 19/4/2016 và gửi cho tôi, P giải thích lý do cho nghỉ, do P tiế n hà nh tá i cơ cấ u thay đổ i phò ng bá n hà ng , dẫ n đế n chấ m dứ t hợ p đồ ng lao độ ng vớ i nhiề u ngườ i. Nhưng sau khi tôi nghỉ việ c, tôi kiể m tra thì điề u nà y hoà n toà n không có thự c…” hay nó i cá ch khá c và o thờ i điể m có đơn
khiế u nạ i lầ n 3 vào ngày 06/4/2017 thì ông Nguyễn Công T đã biế t “quyề n lợ i củ a mì nh bị xâm phạ m”, bị cho thôi việ c vớ i lý do “căn cứ và o đơn xin thôi việ c ngà y 14/4/2016 và nguyện vọng của ông Nguyễn Công T ” chứ khô ng phả i cho nghỉ việ c “do tá i cơ cấ u” . Theo quy đị nh tạ i khoả n 2 Điề u 202 Bộ luậ t lao độ ng và cá ch phân tí ch củ a cấ p sơ thẩ m thì và o ngà y 06/4/2017, ông Nguyễ n Công T đã biế t “quyề n lợ i củ a mình bị xâm phạm”, không phả i cho thôi việ c “do tá i cơ cấ u” nên thờ i hiệ u khở i kiệ n đượ c tí nh từ ngà y 06/4/2017 nhưng đế n ngà y 09/7/2018, ông Nguyễ n Công T mớ i là m đơn khở i kiệ n là quá thờ i hiệ u quy đị nh (cấ p sơ thẩ m xá c đị nh thờ i hiệ u tí nh từ ngà y 06/4/2017 là theo hướ ng có lợ i cho ông Nguyễ n Công T);
- Việ c ông Nguyễ n Công T cho rằ ng sau khi có Đơn khiế u lầ n 3 vào ngày 06/4/2017 và đến khoảng thời gian từ ngày
15/7/2017 đến 30/7/2017, ông Nguyễ n Công T mớ i nhậ n đượ c “Thư củ a Công ty đề ngà y 12/7/2017” thừ a nhậ n cho ông nghỉ việ c “không phả i do tá i cơ cấ u và đưa ra lý do nghỉ việ c do thỏa thuận với ông” và xác định thời hiệu khởi hiệu khởi kiện phải được tính từ ngày 30/7/2017 (ngày ông cho rằ ng chí nh thứ c biế t „quyề n lợ i củ a mì nh” bị xâm phạm) là không có cơ sở nên việc ông nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hò a và o ngà y 09/7/2018 là đã quá thời hiệu quy định;
- Việ c Phò ng Lao độ ng thương binh và xã hộ i thành phố B lậ p Biên bả n hòa giải tranh chấp về lao động vào ngày 07/6/2018 giữ a ông Nguyễ n Công T và Công ty cổ phần V sản xuất thức ăn gia súc là theo yêu cầu của ông Nguyễn Công T, đã quá thờ i hiệ u quy đị nh tạ i khoả n 1 Điề u 202 Bộ luậ t lao độ ng “Thờ i hiệ u yêu cầ u hò a giả i việ n lao dộ ng thự c hiệ n hò a giả i lao độ ng cá nhân là
06 tháng, kể từ ngà y phá t hiệ n ra hà nh vi mà mỗ i bên tranh chấ p cho rằ ng quyề n, lợ i í ch hợ p phá p củ a mì nh bị vi phạ m” và nộ i dung biên bả n hò a giả i không thuộ c trườ ng hợ p tí nh lạ i thờ i hiệ u khở i kiệ n
(do cá c bên không thỏ a thuậ n đượ c) theo quy đị nh tạ i điể m c khoả n 1 Điề u 157 Bộ luậ t dân sự như đơn khá ng cáo của nguyên đơn đã viện dẫn;
- Quá trình làm việc , Công ty cổ phầ n V sản xuất thức ăn gia súc có yêu cầ u Tò a á n nhân dân thành phố Biên Hò a á p dụ ng quy đị nh củ a phá p luậ t về thờ i hiệ u để giả i quy ết tranh chấp theo quy định tại Điều 184 Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự và tài liệu tại hồ sơ vụ án thể hiện vào ngày
12/4/2016, ông Nguyễ n Công Thắ ng có kiế n nghị đế n Ban giá m đố c Công ty cổ phầ n V sản xuất thức ăn gia sú c trì nh bà y nguyệ n vọ ng cá nhân khi Công ty khuyế n khí ch ông thôi việ c “ông mong muố n ngoà i chế độ Công ty cho ông hưở ng theo luậ t lao độ ng , Công ty cò n hỗ trợ thêm cho ông 05 tháng lương tương đương số tiền 231.850.000đ”;
Do đó , việ c Tò a á n nhân dân thành ph ố Biên Hò a á p dụ ng cá c Điề u 48, Điề u 217 (cấ p sơ thẩ m không ghi đầ y đủ điể m khoả n á p dụ ng là điể m e khoả n 1 Điề u 217), 218, 219, khoản 2 Điề u 273 Bộ luậ t tố tụ ng dân sự ra Quyế t đị nh đì nh chỉ vụ án là có cơ sở . Kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Vũ Ngọc A không có căn cứ nên không được chấp nhận.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề nghị Hội đồng họp xét áp dụng điểm a khoản 5 Điề u 314 Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự giữ nguyên quyế t đị nh củ a Tò a á n cấ p sơ thẩ m , không chấ p nhậ n khá ng cá o củ a nguyên đơn.
Về án phí lao động phúc thẩm: Ông Nguyễn Công T được miễn án phí theo quy định.
Vì những lẽ trên;
Căn cứ vào điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Vũ Ngọc A. Giữ nguyên Quyế t đị nh đình ch ỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 23/2019/QĐST-LĐ ngày 05 tháng 9 năm 2019 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hò a.
2. Về án phí lao động phúc thẩm: Ông Nguyễ n Công T đượ c miễ n á n phí theo quy đị nh.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉ nh Đồ ng Nai; - VKSND TP.Biên Hò a; - Cơ quan THA.DS TP.BH; - các đương sự - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trầ n Phương Đông |