- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị Mỹ L, cụ thể:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẾN TRE Bản án số: 79/2022/HNGĐ–ST Ngày: 10-8-2022 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Kim Ngân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Mai Thị Nhặc
2. Bà Đoàn Lệ Hồng
- Thư ký phiên toà: Ông Đinh Nhật Trường – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuân Hoàng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 153/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 189/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 209/2022/QĐST-HNGĐ ngày 02/8/2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Mỹ L, sinh năm 1996; HKTT: ấp A, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. Địa chỉ liên lạc: ấp K, xã K1, huyện M1, tỉnh Bến Tre (Có mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1995; Nơi cư trú: ấp A, xã T, huyện M1, tỉnh Bến Tre (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Bùi Thị Mỹ L trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn T1 kết hôn do quen biết. Anh chị tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thành Thới B, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre vào ngày 13/4/2016.
Sau khi kết hôn, vợ chồng cùng chung sống tại nhà cha mẹ chồng ở ấp An Thiện, xã Thành Thới B, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Thời gian chung sống với nhau hạnh phúc được khoảng bốn năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mất hạnh phúc là do anh T1 không quan tâm lo lắng, chăm sóc vợ con và làm gì không rõ mà gây ra nợ xấu ảnh hưởng tới gia đình. Mặc dù chị đã nhiều lần khuyên giải nhưng anh T1 vẫn không sửa đổi. Chị đã về nhà cha mẹ ruột sống từ tháng 9 năm 2021 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân vợ chồng có hàn gắn nhưng không thành.
Nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng, không thể tiếp tục quan hệ hôn nhân nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T1.
Về con chung: Chị và anh T1 có một con chung là cháu Nguyễn Anh Thư, sinh ngày 04/02/2016, hiện đang sống chung với chị. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu con chung giao cho chị trực tiếp nuôi, chị không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng cho con.
Về chia tài sản: Chị và anh T1 không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn T1 vắng mặt trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nên không có lời trình bày.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam phát biểu quan điểm như sau:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Trong thời gian chuẩn bị xét xử, Thẩm phán thực hiện các thủ tục tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện nhiệm vụ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chấp hành chưa đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Mỹ L. Về hôn nhân: Chị L được ly hôn với anh T1. Về con chung: Cháu Nguyễn Anh T2, sinh ngày 04/02/2016, giao cho chị L được trực tiếp nuôi, ghi nhận chị L không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung: Không có nên không xem xét. Về nợ chung: Không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Nguyên đơn chị Bùi Thị Mỹ L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Văn T1 và yêu cầu giải quyết về con chung nên xác định quan hệ pháp luật của vụ án là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị L có quyền khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình, Điều 186 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Nguyễn Văn T1 có nơi cư trú tại ấp An Thiện, xã Thành Thới B, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Căn cứ vào quan hệ pháp luật của vụ án và nơi cư trú của bị đơn xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Nguyễn Văn T1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T1 theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Bùi Thị Mỹ L, Hội đồng xét xử nhận định: Chị L và anh T1 tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thành Thới B, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre vào ngày13/4/2016. Hôn nhân của anh chị được xác lập trên tinh thần tự nguyện, tuân thủ đúng quy định pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Trong thời gian chung sống, giữa chị L và anh T1 phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị L trình bày là anh T1 không quan tâm lo lắng, không chăm sóc vợ con, làm gì không rõ dẫn đến nợ xấu ảnh hưởng đến gia đình. Chị đã nhiều lần khuyên giải nhưng anh T1 không sửa đổi. Chị L và anh T1 đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2021 đến nay nhưng không tìm được biện pháp hàn gắn đoàn tụ. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mời anh T1 đến Tòa tham gia hòa giải để tìm cách hàn gắn, khắc phục mâu thuẫn cho anh chị nhưng anh T1 đều không đến, cũng không có văn bản nêu ý kiến hay phản đối lời trình bày của chị L. Từ đó cho thấy anh T1 cũng không có thiện chí hàn gắn. Tại phiên tòa, chị L kiên quyết giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh T1, không thay đổi. Từ các cơ sở trên cho thấy, tình trạng hôn nhân của chị L và anh T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét về con chung, Hội đồng xét xử nhận định: Chị L và anh T1 có một con chung là cháu Nguyễn Anh T2, sinh ngày 04/02/2016, hiện đang sống chung với chị L. Chị L yêu cầu sau khi ly hôn, con chung giao cho chị trực tiếp nuôi, chị không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng cho con. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu T2 đã ở chung với chị L từ trước đến nay, đang được nuôi dưỡng, chăm sóc, phát triển ổn định, anh T1 lại không đưa ra yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi. Chị L không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng cho con là ý chí tự nguyện của chị nên ghi nhận.
Về chia tài sản: Chị L xác định chị và anh T1 không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh T1 không đưa ra yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: chị L trình bày không có, anh T1 không đưa ra yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn Bùi Thị Mỹ L có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị Mỹ L, cụ thể:
Về quan hệ hôn nhân: chị Bùi Thị Mỹ L được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.
Về con chung: Cháu Nguyễn Anh T2, sinh ngày 04/02/2016, giao cho chị Bùi Thị Mỹ L trực tiếp nuôi. Ghi nhận chị Bùi Thị Mỹ L không yêu cầu anh Nguyễn Văn T1 cấp dưỡng cho con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng cho con. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về chia tài sản: Chị Bùi Thị Mỹ L xác định không có tài sản chung với anh T1 nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Nguyễn Văn T1 không đưa ra yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: chị Bùi Thị Mỹ L trình bày không có, anh Nguyễn Văn T1 không đưa ra yêu cầu nên không giải quyết.
Về án phí đối với yêu cầu ly hôn: chị Bùi Thị Mỹ L có nghĩa vụ chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007853 ngày 03 tháng 6 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự (2b); - VKSND huyện Mỏ Cày Nam (1b); - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Nam (1b); - Cơ quan ĐKKH (1b); - TAND tỉnh Bến Tre (1b); - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng (4b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Kim Ngân |