vanban.org

Quyết định 79/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị Thảo S.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đoàn Thị Thảo S được ly hôn với anh Huỳnh Minh T1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa S và T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị Thảo S.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VŨNG LIÊM
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 22 - 8 - 2019
"V/v Tranh chấp về hôn nhân
và gia đình”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM

TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Ẩn.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Chí Trình.

2. Bà Trầm Thị Thu Hà.

- Thư ký phiên tòa: Ông Kiều Minh Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long

tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Nghĩa – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm

xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 523/2019/TLST - HNGĐ ngày 06

tháng 12 năm 2018 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa

vụ án ra xét xử số: 139/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2019 giữa

các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị Thảo S - sinh năm: 1979 (có mặt);

- Bị đơn: Anh Huỳnh Minh T1 - sinh năm: 1972 (vắng mặt);

Cùng địa chỉ cư trú: ấp A, xã H, huyện V, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 15-11-2018 và trong quá trình tham gia tố tụng

nguyên đơn chị S trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị S và anh T1 do mai mối và được sự đồng ý

của 02 bên gia đình rồi đi đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới vào năm 2017 và

đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện V, tỉnh T vào ngày 05 tháng 4

năm 2017.

Sau ngày cưới anh chị lên Thành phố H để làm thuê sống tự lập riêng.

Thời gian đầu vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc đến tháng 07 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do lúc này chị S về quê dưỡng thai và sinh con thì anh T1 không quan tâm, chăm sóc cho chị S và con, không gửi tiền về nuôi con mà lo đi nhậu với bạn bè, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cải với nhau. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 07 năm 2017 cho đến nay.

Nay chị S nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung vợ,

chồng đã mâu thuẫn trầm trọng không thể kéo dài nên chị S yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Minh T1.

- Về con chung: Anh, chị có 01 con chung tên Huỳnh Đoàn Minh T2, sinh

ngày 08 tháng 10 năm 2017. Cháu T2 đang sống chung với chị S. Sau khi ly hôn chị S yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T2. Tại đơn khởi kiện ngày 15 tháng 11 năm 2018 thì chị S yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi cháu T2 mỗi tháng là 1.000.000đ nhưng nay chị S xin rút lại đối với yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi cháu T2.

- Về tài saûn chung: Chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ phaûi thu, phaûi trả: Chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Huỳnh Minh T1 đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản

tố tụng nhưng anh không đến Tòa án để tham gia tố tụng và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án nên không có lời trình bày.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long có ý

kiến: về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là phù hợp pháp luật. Bị đơn không chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.

Hướng giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điều 147, 227, 262 của Bộ luật tố

tụng dân sự, Điều 9, 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Về quan hệ hôn nhân: Mâu thuẫn giữa chị S và anh T1 đã trầm trọng nên

đề nghị Hội đồng xét xử cho chị S được ly hôn với anh T1.

Về con chung: Chị S và anh T1 có 01 con chung tên Huỳnh Đoàn Minh

T2, sinh ngày 08 tháng 10 năm 2017. Cháu T2 dưới 36 tháng tuổi, đang sống chung với chị S và đang phát triển rất tốt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tiếp

tục giao cháu T2 cho chị S được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh T1 không

phải cấp dưỡng nuôi cháu T2.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị S không có yêu cầu giải quyết nên đề

nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị S phải chịu án phí về hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

* Tài liệu, chứng cứ trong vụ án:

- Nguyên đơn đã nộp: Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính); giấy khai

sinh (bản sao).

- Bị đơn đã nộp: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ được thể hiện tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên

Toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Toà, Tòa án nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Chị S có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh

Vĩnh Long giải quyết ly hôn giữa chị và anh T1. Theo quy định tại khoản 1 Điều

35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải

quyết của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm.

- Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long đã tống đạt đầy đủ

các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do. Tòa án

đã triệu tập bị đơn tham gia phiên tòa xét xử sở thẩm hợp lệ lần thứ hai, nhưng

bị đơn vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan

nên căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử

tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn anh T1.

Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị S và anh T1 do quen biết rồi đi đến hôn nhân

có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân nhân dân xã H vào

ngày 05 tháng 4 năm 2017 nên hôn nhân giữa anh chị là hôn nhân hợp pháp

được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Sau khi kết hôn chị S và anh T1 chung sống với nhau hạnh phúc đến

tháng 07 năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyễn nhân do anh chị bất đồng quan

điểm, thường xuyên cự với nhau, anh T1 không chăm lo cho gia đình. Anh, chị

đã sống ly thân từ tháng 07 năm 2017 cho đến nay không thể hàn tình cảm để

đoàn tụ chung sống.

Tại biên bản xác minh ngày 29 tháng 5 năm 2019 thì bà Lê Thị N là mẹ

ruột của anh Huỳnh Minh T1 trình bày anh T1 đang đi làm ăn xa bà có nhận văn bản của Tòa án gửi cho anh và có thông báo cho anh T1 mà anh T1 không về được và nói tùy chị S quyết định.

Xét thấy, chị S và anh T1 đã sống ly thân trong thời gian dài mà không

thể hàn gắn đoàn tụ, đã cho thấy mâu thuẫn trong hôn nhân giữa chị S và anh T1 lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị S là phù hợp theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

- Về con chung: Anh, chị có 01 con chung tên Huỳnh Đoàn Minh T2, sinh

ngày 08 tháng 10 năm 2017. Cháu T2 chưa đủ 36 tháng tuổi, hiện đang sống chung với mẹ là chị S và đang phát triển rất tốt, chị S cũng có yêu cầu được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T2. Do đó, để đảm bảo điều kiện phát triển bình thường cho cháu T2 cần tiếp tục giao cháu T2 cho chị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

Tại đơn khởi kiện ngày 15 tháng 11 năm 2018 thì chị S yêu cầu anh T1

cấp dưỡng nuôi cháu T2 mỗi tháng là 1.000.000đ nhưng nay chị S xin rút lại đối với yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi cháu T2 nên đình chỉ đối với yêu cầu này của chị S, anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi cháu T2.

- Về tài sản chung: Chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh T1 vắng

mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung phải thu, phải trả: Chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết,

anh T1 vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét đề nghị của vị kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân

huyện Vũng Liêm là có cơ sở để chấp nhận.

Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị S phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn

đồng) tiền án phí sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 217, Điều

Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị Thảo S.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đoàn Thị Thảo S được ly hôn với anh

Huỳnh Minh T1.

- Về con chung: Giao cháu Huỳnh Đoàn Minh T2, sinh ngày 08 tháng 10

năm 2017 cho chị Đoàn Thị Thảo S được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi

dưỡng, giáo dục.

Đình chỉ đối với yêu cầu anh Huỳnh Minh T1 phải cấp dưỡng nuôi con

của chị Đoàn Thị Thảo S. Chị Đoàn Thị Thảo S được quyền khởi kiện yêu cầu

Tòa án giải quyết lại đối với yêu cầu bị đình chỉ theo quy định của pháp luật.

Anh Huỳnh Minh T1 không phải cấp dưỡng nuôi cháu Huỳnh Đoàn Minh

T2.

Ngöôøi khoâng tröïc tieáp nuoâi con coù quyeàn, nghĩa vụ thaêm nom con mà

không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở

hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục

con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm

nom con của người đó.

- Về tài sản chung: Chị Đoàn Thị Thảo S không yêu cầu Tòa án giải

quyết, anh Huỳnh Minh T1 vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung phải thu, phải trả: Chị Đoàn Thị Thảo S không yêu cầu

Tòa án giải quyết, anh Huỳnh Minh T1 vắng mặt nên Hội đồng xét xử không

xem xét.

- Án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Đoàn Thị Thảo S phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân

sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án

phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số N0 0009416

ngày 06 tháng 12 năm 2018 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Vũng Liêm.

Chị Đoàn Thị Thảo S đã nộp đủ không phải nộp thêm.

Anh Huỳnh Minh T1 không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành

án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện

thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và

Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy

định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ

ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ