vanban.org

Quyết định 782/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Quận 3, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 23/08/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần A:

1.Buộc ông Tôn Thất N phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần A số tiền là 93.248.593 đồng, bao gồm: : 58.719.765 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần A:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 782/2019/DS-ST
Ngày: 23/8/2019
V/v “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trầm Tuấn Kiệt.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Quang

2. Bà Nguyễn Thị Xuyến

-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Trinh – là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 tham gia phiên tòa: Bà Lê Mộng Điệp – Kiểm Sát Viên.

Trong ngày 23 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 425/2019/TLST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2019 về tranh chấp “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2019/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên toà số 171/2019/QĐST-DS ngày 25 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP A

Trụ sở: Lầu 8, 266-268 Đường x, phường y, quận z, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Phạm Trường Tlà người đại diện theo ủy quyền – Văn bản uỷ quyền 296/2018/UQ-TTT ngày 26/3/2019.

(Có mặt)

2. Bị đơn: Ông Tôn Thất N, sinh năm 1966

Địa chỉ: 7/1 Đường x, phường y, quận z, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ngày 26/3/2019, trong quá trình giải quyết và tại phiên toà, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần A có ông Phạm Trường Tđại diện trình bày:

Ngày 29/9/2011, Ngân hàng TMCP A và ông Tôn Thất N ký kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức tín dụng là 50.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông N đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 484.637.014 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt đến nay ông N đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 497.609.600 đồng.

Qua nhiều lần nhắc nhở, ông N vẫn không có thiện chí trả nợ nên ngày 23/02/2018 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 58.719.765 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại.

Nay Ngân hàng yêu cầu ông Tôn Thất N phải trả ngay một lần cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 23/8/2019 là 93.248.593 đồng, trong đó nợ gốc là 58.719.765 đồng và tiền lãi quá hạn là 34.528.828 đồng.

Ông N có trách nhiệm thanh toán lãi phát sinh từ ngày 24/8/2019 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định.

Bị đơn ông Tôn Thất N đã được Toà án triệu tập, thông báo theo quy định nhưng vẫn vắng mặt trong quá trình giải quyết và tại phiên toà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: các đương sự đã chấp hành quy định pháp luật và Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tiến hành tố tụng đúng theo quy định tại Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và phần trình bày của các đương sự tại phiên tòa thì yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng là có cơ sở. Do đó Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đề nghị Toà án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết Tòa án:

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần A khởi kiện, yêu cầu ông Tôn Thất N trả tiền nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng nên đây là vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Do bị đơn ông Tôn Thất N có địa chỉ tại Quận 3 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 3 được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về tố tụng:

Xét bị đơn ông Tôn Thất N đã được Toà án triệu tập đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông N theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực ngày 01/01/2017 quy định về điều khoản chuyển tiếp như sau:”c) Giao dịch dân sự được thực hiện xong trước ngày Bộ luật này có hiệu lực này mà có tranh chấp thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 để giải quyết;”

Do Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 29/9/2011 nên Hội đồng xét xử căn cứ vào những quy định của Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 để giải quyết.

Về yêu cầu của đương sự:

Nguyên đơn Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông Tôn Thất N phải thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi quá hạn tính đến ngày 23/8/2019 là 93.248.593 đồng trong đó bao gồm nợ gốc là 58.719.765 đồng, lãi là 34.528.828 đồng. Yêu cầu trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Về nợ gốc:

Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 29/9/2011 thể hiện ông Tôn Thất N được cấp thẻ tín dụng hạn mức là 50.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2.15%/tháng.

Căn cứ bản tự khai, Bảng tóm tắt sao kê, sau khi được cấp thẻ, ông Tôn Thất N đã giao dịch với tổng số tiền 484.637.014 đồng. Ngày 23/02/2018, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tại thời điểm đó, dư nợ gốc là 58.719.765 đồng.

Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử đã có đủ chứng cứ xác định ông Tôn Thất N còn nợ ngân hàng số tiền 58.719.765 đồng

Tại khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng quy định về trường hợp chấm dứt cấp tín dụng, xử lý nợ như sau:

“1.Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng.”

Do ông Tôn Thất N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo như thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng nên Ngân hàng chấm dứt việc sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 58.719.765 đồng sang nợ quá hạn đối với ông Tôn Thất N là phù hợp theo quy định tại Khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.

Về nợ lãi: nguyên đơn Ngân hàng yêu cầu ông Tôn Thất N thanh toán tiền lãi quá hạn tạm tính đến ngày 23/8/2019 là 34.528.828 đồng.

Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 29/9/2011, các bên thỏa thuận lãi quá hạn là 3,225% (Lãi quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng).

Tại Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng quy định:

“2.Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật.”

Do đó, việc các bên thỏa thuận về lãi suất tại hợp đồng tín dụng là hoàn toàn phù hợp. Ngân hàng yêu cầu ông Tôn Thất N thanh toán tiền lãi tạm tính đến ngày 23/8/2019 là 34.528.828 đồng, là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ngân hàng, buộc bị đơn ông Tôn Thất N phải có trách nhiệm thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi quá hạn tính đến ngày 23/8/2019 là 93.248.593 đồng, trong đó bao gồm nợ gốc là 58.719.765 đồng, lãi là 34.528.828 đồng.

Về thời hạn thanh toán: nguyên đơn Ngân hàng yêu cầu bị đơn ông Tôn Thất N trả số tiền nợ nêu trên một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Xét, tại khoản 1 Điều 474 Bộ luật Dân sự quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn…”. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn ông Tôn Thất N có nghĩa vụ trả số tiền 93.248.593 đồng một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn ngân hàng được chấp nhận nên bị đơn ông Tôn Thất N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 267, Điều 273 Bộ Luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 290, 471, 474 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Điều 91, 95 Luật Tổ chức tín dụng;

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.

1.Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần A:

1.1.Buộc ông Tôn Thất N phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần A số tiền là 93.248.593 đồng, bao gồm:

+ Nợ gốc

: 58.719.765 đồng.

+ Lãi

: 34.528.828 đồng (tính đến hết ngày 23/8/2019)

Trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

1.2.Kể từ ngày 24/8/2019 cho đến khi thi hành án xong, ông Tôn Thất N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất các bên thỏa thuận được quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 29/9/2011.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

2.1.Ông Tôn Thất N chịu 4.662.430 đồng.

2.2.Hoàn tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng Thương mại cổ phần A số tiền 2.053.469 đồng theo biên lai thu số 0014110 ngày 12/4/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 3.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại cổ phần A có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Tôn Thất N có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ