- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Căn cứ chính? Điều 337 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 343 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 345 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG Quyết định giám đốc thẩm | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 78/2018/DS-GĐT Ngày 25/10/2018 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tự.
Các Thẩm phán: Ông Đặng Kim Nhân và ông Phạm Việt Cường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”; giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Trần Văn S và bà Nguyễn Thị H
Trú tại: Thôn Đ, xã C, huyện C1, tỉnh Quảng Trị.
* Bị đơn: Ông Trần T và bà Trần Thị N.
Trú tại: Thôn Đ, xã C, huyện C1, tỉnh Quảng Trị.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 03/2013/QĐST-DS ngày 26/3/2013, Tòa án nhân dân huyện C1, tỉnh Quảng Trị đã quyết định:
“Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
ông Trần Văn S và bà Nguyễn Thị H
bị đơn ông Trần T và bà Trần Thị N:
- Ông Trần T và bà Trần Thị N có nghĩa vụ trả nợ cho ông Trần Văn S và bà Nguyễn Thị H số tiền vay tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất lập ngày 28 tháng 11 năm 2011 là 800.000.000 đồng.
- Ông Trần T và bà Trần Thị N phải chịu 18.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Trần Văn S và bà Nguyễn Thị H không
ho ông Trần Văn S và bà Nguyễn Thị H
biên lai số 001987 ngày
Chi cục Thi hành án dân sự
C1
- Trường hợp ông Trần T và bà Trần Thị N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ông Trần Văn S và bà Nguyễn Thị H có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.”
Ngày 18/3/2015, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra Quyết định kháng nghị số 49/2015/KN-DS đối với Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 03/2013/QĐST-DS ngày 26/3/2013 của Tòa án nhân dân huyện C1, đề nghị Uỷ ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử giám đốc thẩm hủy toàn bộ Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 03/2013/QĐST-DS ngày 26/3/2013.
Uỷ ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị tiến hành xét xử giám đốc thẩm và ra Quyết định giám đốc thẩm số 01/2015/DSST-GĐT ngày 28/5/2015, hủy toàn bộ Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 03/2013/QĐST-DS ngày 26/3/2013 và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện C1 giải quyết lại theo trình tự sơ thẩm.
Ngày 01/7/2015, Tòa án nhân dân huyện C1 thụ lý lại vụ án và thông báo cho nguyên đơn nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm nhưng nguyên đơn không nộp. Do đó, Tòa án nhân dân huyện C1 ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 13/2015/QĐST-DS ngày 30/9/2015, quyết định:
“1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 14/2015/TLST-DS ngày 01/7/2015, về việc: “ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”; giữa:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn S và bà Nguyễn Thị H...
- Bị đơn: Ông Trần T và bà Trần Thị N...
2. Nguyên đơn có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.
3. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
4. Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.”
Ngày 27/5/2016, Chi cục Thi hành án dân sự huyện C1 có văn bản số 162/BC-THA kiến nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng
hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 13/2015/QĐST-DS ngày 30/9/2015 của Tòa án nhân dân huyện C1; với lý do: Việc đình chỉ vụ án không giải quyết hậu quả của việc đã thi hành án là trái quy định của pháp luật.
Ngày 18/5/2018, Chánh án Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng có
kháng nghị
-
Uỷ ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng
Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 13/2015/QĐST-DS ngày 30/9/2015 nêu trên.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Tòa án nhân dân huyện C1 tiến hành
lại vụ án và thông báo cho nguyên đơn nộp tiền tạm ứng án phí sơ
nhưng nguyên đơn không nộp. Căn cứ vào quy định tại điểm c khoản 1 Điều 168 và điểm i khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Tòa án nhân dân huyện C1 ra Quyết định đình chỉ
vụ án
số 13/2015/QĐST-DS ngày 30/9/2015.
Tuy nhiên, sau khi Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 03/2013/QĐST-DS ngày 26/3/2013 có hiệu lực pháp luật, các đương sự trong vụ án đã thi hành án. Theo Công văn số 162/BC-THA ngày 27/5/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C1 và văn bản trình bày ý kiến của ông Trần T, Trần Thị N, các đương sự đã thi hành:
- Bị đơn Trần T -Trần Thị N đã chuyển giao
các giấy tờ về quyền sử dụng đất cho nguyên đơn Trần Văn S - Nguyễn Thị H theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 28/11/2011.
- Bị đơn Trần T và Trần Thị N đã nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là 5.000.000 đồng. [3] Vụ án được giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm và các đương sự đã thi hành án. Việc đã thi hành án của các đương sự gây khó khăn cho việc cưỡng chế thi hành bản án khác của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C1 và không bảo đảm quyền lợi của các đương sự. Lẽ ra, khi quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện C1 phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án và giải quyết tiền án phí mà bị đơn Trần T - Trần Thị N đã nộp. Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 13/2015/QĐST-DS ngày 30/9/2015 của Tòa án nhân dân huyện C1 không giải quyết hậu quả của việc đã thi hành án và tiền án phí nêu trên.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 337; khoản 3 Điều 343 và khoản 2 Điều 345 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
1. Chấp nhận
kháng nghị
số 60/2018/KN-DS 18/5/2018 của Chánh án Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
2. Hủy toàn bộ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 13/2015/QĐST-DS ngày 30/9/2015 của Tòa án nhân dân huyện C1, tỉnh Quảng Trị; về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”; giữa:
Nguyên đơn: Ông Trần Văn S và bà Nguyễn Thị H.
Bị đơn: Ông Trần T và bà Trần Thị N.
3. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện C1, tỉnh Quảng Trị để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND huyện C1, tỉnh Quảng Trị (2 bản kèm hồ sơ vụ án); - VKSNDCC tại Đà Nẵng; - Chi cục THADS huyện C1, tỉnh Quảng Trị; - Các đương sự; - Lưu: HS, Phòng Lưu trữ; Phòng GĐKT II. | TM. ỦY BAN THẨM PHÁN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Tự |