- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Nguyễn Phước Phạm T-Công Tôn Nữ Tuyết M"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 228/2011/TLST-
- Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 772/2020/QĐST-DS | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 23 tháng 6 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
Căn cứ vào các Điều 48, Điểm c Khoản 1 Điều 217, Điều 218, Điều
219 và Khoản 2 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Pháp lệnh án phí, lệ phí năm 2009;
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 48 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số
228/2011/TLST-DS ngày 29/6/2011 về việc: “Tranh chấp tiền đền bù giải tỏa”;
Xét thấy: Nguyên đơn ông Nguyễn Phước Phạm T khởi kiện yêu cầu
Tòa án buộc bà Công Tôn Nữ Tuyết M phải chia đều số tiền đền bù giải tỏa
đã nhận đối với căn nhà số A13/4 tổ 74, Khu phố 6, đường L, phường A ,
Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cho các anh, chị em gồm ông Nguyễn
Phước Phạm T, ông Nguyễn Phước Phạm H1, ông Nguyễn Phước Phạm H2,
ông Nguyễn Phước Phạm Tu (chết năm 2011, độc thân).
Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/02/2010 và quá trình giải quyết vụ án,
nguyên đơn ông Nguyễn Phước Phạm T đều cung cấp địa chỉ cư trú của ông
là ở A13/4 tổ 74, Khu phố 6, đường L, phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Ngày 03/9/2014, Tòa án đã triệu tập ông T theo địa chỉ ông T cung cấp
để đến Tòa làm việc nhưng không có kết quả. Qua xác minh, Công an phường
A, Quận B cho biết địa chỉ trên đã bị giải tỏa, ông T hiện đang cư ngụ tại
14/5A đường H, Khu phố 7, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên tại kết quả xác minh ngày 07/10/2014 của Công an thị trấn N,
huyện N thì ông T không đăng ký thường trú hay tạm trú tại địa chỉ 14/5A
đường H, KP7, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh mà hiện ở tại
địa chỉ: Nhà không số, tổ 9, KP7, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Tại các bản tự khai đề ngày 26/12/2014, 06/5/2015 và 17/8/2015
nguyên đơn ông Nguyễn Phước Phạm T xác nhận do địa chỉ A13/4 tổ 74, Khu
phố 6, đường L, phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh bị giải tỏa nên
hiện giờ ông cư trú không ổn định và đề nghị Tòa án liên lạc theo địa chỉ: Nhà
không số, tổ 9, KP7, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra
ông không cung cấp thêm địa chỉ liên lạc nào khác và tại bản tự khai ngày 17/8/2015, ông T xin Tòa án cho ông thời hạn 01 tháng để bàn lại với anh em trong gia đình về việc ủy thác tư pháp đối với ông Nguyễn Phước Phạm H3 hiện đang sinh sống ở Đ.
Sau đó, Tòa án đã gửi giấy triệu tập theo đường bưu chính cho ông T
nhiều lần nhưng ông T không đến Tòa làm việc. Ngày 19/9/2018, Tòa án có Công văn số 5675/TATP-TDS gửi Công an thị trấn N, huyện Nđể đề nghị xác minh địa chỉ cư trú của ông T nhưng không có kết quả trả lời.
Vào ngày 20/12/2019 và ngày 03/01/2020, Tòa án đã tiến hành tống đạt
giấy triệu tập cho nguyên đơn theo địa chỉ mà nguyên đơn đã cung cấp tại các bản tự khai đề ngày 26/12/2014, 06/5/2015, 17/8/2015 và theo kết quả xác minh của Công an thị trấn N, huyện Nvào ngày 07/10/2014 là ở: Nhà không số, tổ 9, Khu phố 7, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên tại thời điểm tống đạt, ông Lê Minh T là trưởng ban điều hành Khu phố 7, thị trấn N, huyện N cho biết tại địa chỉ trên không có ai tên Nguyễn Phước Phạm T. Qua xác minh tại Công an thị trấn N, huyện N được biết ông Nguyễn Phước Phạm T, sinh năm 1965 không có thực tế cư trú tại địa chỉ: Nhà không số, tổ 9, Khu phố 7, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 70 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì nguyên đơn có quyền, nghĩa vụ “cung cấp đầy đủ, chính xác địa chỉ nơi cư trú, trụ sở của mình; trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc nếu có thay đổi địa chỉ nơi cư trú, trụ sở thì phải thông báo kịp thời cho đương sự khác và Tòa án” nhưng nguyên đơn đã không đến Tòa án làm việc, không thông báo về việc thay đổi địa chỉ, Tòa án không có thông tin gì khác của ông T. Do đó, Tòa án đã thực hiện thủ tục niêm yết đối với ông Nguyễn Phước Phạm T theo đúng quy định của pháp luật. Xét, nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nguyên đơn không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan ông Lê Văn Th và bà Trần Thị Tuyết Tr có yêu cầu đôc lập nhưng đã rút yêu cầu độc lập vào ngày 31/7/2014. Việc rút yêu cầu độc lập của ông Lê Văn Th và bà Trần Thị Tuyết Tr là hoàn toàn tự nguyện và không trái quy định của pháp luật.
Trong vụ án này, bị đơn không có yêu cầu phản tố, không có yêu cầu
độc lập và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác cũng không có yêu cầu độc lập;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 228/2011/TLST-
DS ngày 29/6/2011 về việc: “Tranh chấp tiền đền bù giải tỏa”, giữa:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Phước Phạm T, sinh năm 1965
Nơi cư trú cuối cùng: Nhà không số, tổ 9, khu phố 7, thị trấn N, huyện
N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Bà Công Tôn Nữ Tuyết M, sinh năm 1963
Nơi cư trú cuối cùng: Số A13/4 tổ 74, Khu phố 6, đường L, phường A,
Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Phước Phạm Tu, sinh năm 1964.
- Ông Nguyễn Phước Phạm H1, sinh năm 1968.
- Ông Nguyễn Phước Phạm H2, sinh năm 1972.
- Ông Lê Minh H, sinh năm 1994.
Cùng nơi cư trú cuối cùng: Số A13/4 tổ 74, Khu phố 6, đường L,
phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Nguyễn Phước Phạm H3, sinh năm 1962.
Địa chỉ: Marienplatz 31 Dinggolfing 84130 Germany.
- Ông Lê Văn Thanh, sinh năm 1968.
- Bà Trần Thị Tuyết Trang, sinh năm 1972.
Cùng địa chỉ: Số 17/5 đường số 131, KP1, phường Hiệp Bình Chánh,
quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án:
- Khi đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại điểm c Khoản 1
Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương. sự được quyền khởi kiện lại
theo quy định của pháp luật.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Tiền tạm ứng án phí mà ông Nguyễn
Phước Phạm Tú đã nộp là 8.000.000 (Tám triệu) đồng theo biên lai thu tiền
tạm ứng án phí số 006978, quyển số 0140 ngày 31/3/2010 của Chi cục Thi
hành án dân sự Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh được sung vào công quỹ nhà
nước.
Hoàn trả cho ông Lê Văn Thanh, bà Trần Thị Tuyết Trang tiền tạm ứng
án phí đã nộp là 10.160.000 (Mười triệu một trăm sáu mươi nghìn) đồng theo
biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 047358 ngày 14/9/2010 của Chi cục Thi
hành án dân sự Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền
kháng nghị quyết định này trong thời hạn 07 ngày kề từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nơi!nhận:!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- Tòa án nhân dân tối cao;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND cấp cao tại TPHCM;
- VKSND cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND TPHCM;
- Cục THADS TPHCM;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ (T/20)
Phạm Hồng Loan