vanban.org

Quyết định 77/2023/QĐ-TA

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 07/08/2023 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Minh N.

Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Minh N là Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dƣơng; địa chỉ: ấp G, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dƣơng. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 16 (mƣời sáu) tháng, kể từ ngày ngƣời bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đƣa đi cơ sở cai ngh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Phạm Minh N bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Minh N.
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ D

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Số: 77/2023/QĐ-TA
D, ngày 07 tháng 8 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ D, TỈNH BÌNH DƢƠNG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tuyên.

2. Thư ký phiên họp: Bà Đỗ Thị Hƣơng Giang.

Ngày 07 tháng 8 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 77/2023/QĐ-TA ngày 20 tháng 7 năm 2023, đối với:

Phạm Minh N, sinh năm 1993. Thƣờng trú: khu phố T, phƣờng Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: lớp 9/12; chỗ ở hiện nay: khu phố T, phƣờng Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: lao động tự do; tiền án: không.

Tiền sự: ngày 25/3/2020, bị Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 16 tháng (theo Quyết định số 12/2020/QĐ-TA).

Con ông Phạm Thanh K, sinh năm 1963 và bà Hoàng Thị Thu H, sinh năm 1963.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Phạm Thị Thu Ngân - Chuyên viên Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng (Văn bản ủy quyền số 178/PLĐTBXH-PCTNXH ngày 31/7/2023).

2. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương: Bà Nguyễn Thúy An - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Phạm Minh N là ngƣời đang chấp hành biện pháp quản lý cai nghiện ma túy nơi cƣ trú theo Quyết định số: 12/QĐ-UBND ngày 10/01/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phƣờng Đ thời hạn từ ngày 10/01/2022 đến ngày 10/01/2024. Vào ngày 28/6/2023, Phạm Minh N khai nhận có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Methamphetamine), đƣợc quy định tại khoản 4 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy. Tại bản tự khai Phạm Minh N thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2013 đến nay, lần gần nhất sử dụng ma túy vào ngày 27/6/2023. Đến ngày 29/6/2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phƣờng Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng ra Quyết định số 293/QĐ-UBND về việc chấm dứt việc quản lý cai nghiện tại nơi cƣ trú đối với Phạm Minh N. Trên sơ sở đó, Công an phƣờng Đ tiến hành lập hồ sơ đề nghị đƣa Phạm Minh N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

- kiến của đại diện cơ quan đề nghị: Đề nghị đƣa Phạm Minh N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để giúp Phạm Minh N trở thành ngƣời có ích cho xã hội và góp phần đảm bảo an ninh trật tự tại địa phƣơng. Thời gian áp dụng cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Minh N là từ 16 tháng đến 20 tháng. Cơ sở cai nghiện bắt buộc áp dụng đối với Phạm Minh N là Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dƣơng, địa chỉ: ấp G, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dƣơng.

- kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng: Trong quá trình thụ lý hồ sơ, chuẩn bị mở phiên họp và tại phiên họp Thẩm phán, Thƣ ký, Cơ quan đề nghị và những ngƣời tham gia phiên họp đã thực hiện theo đúng quy định của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội. Căn cứ các tài liệu đã thu thập trong hồ sơ, lời khai của Phạm Minh N về việc sử dụng ma túy. Đề nghị phiên họp chấp nhận quan điểm đƣa Phạm Minh N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣợc thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của cơ quan đề nghị.

XÉT THẤY:

Về thẩm quyền xem xét, quyết định: Hồ sơ do Phòng Lao động – Thƣơng binh và Xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng lập đề nghị Tòa án nhân dân thành phố D xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Minh N. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính; khoản 1 Điều 3 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, Tòa án nhân dân thành phố D thụ lý, xem xét là đúng thẩm quyền.

Về thời hiệu áp dụng: Căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính đối với Phạm Minh N lập ngày 28/6/2023 do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 20/7/2023, Tòa án nhân dân thành phố D đã thụ lý hồ sơ xem xét nên vẫn còn thời hiệu xử lý vi phạm hành chính đƣợc quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Hồ sơ đề nghị đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Minh N có đầy đủ thủ tục theo quy định tại Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Ngày 10/01/2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phƣờng Đ ban hành Quyết định số: 12/QĐ-UBND về việc quản lý cai nghiện ma túy tại nơi cƣ trú với thời hạn từ ngày 10/01/2023 đến ngày 10/01/2024 đối với Phạm Minh N. Vào ngày 28/6/2023, Phạm Minh N tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Methamphetamine) là thuộc trƣờng hợp bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 4 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy.

Căn cứ các tài liệu đã thu thập đƣợc có trong hồ sơ; ý kiến của đại diện Phòng Lao động Thƣơng binh và Xã hội thành phố D; ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D đủ cơ sở xác định:

Phạm Minh N sử dụng ma túy, loại ma túy mà Phạm Minh N sử dụng là Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT 323, Nghị định 73 ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Nhƣ vậy, Phạm Minh N là đối tƣợng bị áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định quy định tại khoản 4 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy và khoản 1 Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020.

Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi: Phạm Minh N là ngƣời đã thành niên đủ khả năng nhận thức, biết rõ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của Phạm Minh N không chỉ gây hại cho sức khỏe bản thân mà còn là nguyên nhân dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật khác, ảnh hƣởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phƣơng.

Về tình tiết tăng nặng: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình làm việc Phạm Minh N đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, tình tiết trên đƣợc quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020.

Từ những phân tích trên xét thấy việc đƣa Phạm Minh N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết.

Đối với ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên tham gia phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật nên đƣợc chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Minh N.

Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Minh N là Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dƣơng; địa chỉ: ấp G, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dƣơng.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 16 (mƣời sáu) tháng, kể từ ngày ngƣời bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đƣa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng có quyền kiến nghị; Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng có quyền kháng nghị; ngƣời bị đề nghị có quyền khiếu nại quyết định trong hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Toà án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng lao động – Thƣơng binh và Xã hội thành phố D; Công an thành phố D và Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dƣơng có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ