vanban.org

Quyết định 77/2019/QĐ-TA

TAND huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 28/10/2019 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

đối với N. Nơi chấp hành: Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk; Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện P, tỉnh Đắk Lắk. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Cai nghiện"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN E
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 77/2019/QĐ-TAE, ngày 28 tháng 10 năm 2019.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN E.

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy

2. Thư ký phiên họp: Ông Phan Việt Tiệp

Ngày 28 tháng 10 năm 2019, tại Toà án nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 79/2019/QĐ-TA ngày 18 tháng 10 năm 2019, đối với:

Họ và tên: N; Giới tính: Nam; sinh năm 1993; dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 6/12; nguyên quán: tỉnh Cao Bằng; hộ khẩu thường trú: Thôn G, xã M, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở hiện nay: Không ổn định; tiền án: có 1 tiền án; tiền sự: Không; con ông Hoàng Tự L (đã chết) và bà Ngôn Thị H; có vợ là Đàm Thị Quỳnh N. Có mặt.

Với sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động thương binh & xã hội huyện E: Bà Lưu Thị Quỳnh Giang - Chức vụ: Phó trưởng phòng. Có mặt.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện E: Ông Phạm Công Hà - Chức vụ: Kiểm sát viên. Có mặt.

NHẬN THẤY:

Ngày 23 tháng 8 năm 2019 Công an xã M, huyện E đã phát hiện và lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với N. Tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định người nghiện ma túy của Bệnh viện đa khoa huyện E xác định N nghiện Moocphin. Tại bản tường trình và biên bản ghi lời khai, N khai nhận bắt đầu sử dụng ma túy khoảng từ năm 2011, loại ma túy sử dụng là Hêrôin, hình thức sử dụng là hòa ma túy vào nước, cho vào xilanh và chích vào ven ở tay.

Theo nội dung biên bản xác minh của Công an xã M, N có hộ khẩu thường trú tại: Thôn 9, xã M, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, không có nghề nghiệp ổn định, nguồn sống chính phụ thuộc gia đình, thường xuyên bỏ nhà đi lang thang mỗi lần từ 15 đến 30 ngày mới trở về, không ai rõ là đi đâu.

Qua kiểm tra tình trạng nghiện ma túy của N và kết luận về tính pháp lý của hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng tư pháp huyện EaH’Leo là đầy đủ và đảm bảo tính pháp lý. Ngày 15/10/2019 Phòng Lao động Thương binh & Xã hội huyện E có công văn đề nghị Tòa án nhân dân huyện E áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động Thương binh & Xã hội huyện EaH’Leo đề nghị đưa N đi cai nghiện tại Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk với thời hạn từ 18 tháng đến 20 tháng.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện E phát biểu ý kiến cho rằng từ khi thụ lý cho đến khi mở phiên họp, Thẩm phán cũng như những người tham gia phiên họp đã tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ, căn cứ kết quả tại phiên họp, ý kiến của những người tham gia phiên họp.

XÉT THẤY:

- Về thẩm quyền xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Cơ quan đề nghị là Phòng Lao động Thương binh & Xã hội huyện E có trụ sở tại địa bàn huyện E, nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện E theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13, ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Về thời hiệu: Ngày 23/8/2019 Công an xã M đã phát hiện và lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với N, đến ngày 15/10/2019 Phòng Lao động Thương binh & Xã hội huyện E có Công văn số 205/LĐTBXH đề nghị Tòa án nhân dân huyện E xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là còn thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Căn cứ vào các tài liệu đã được thu thập và lời trình bày của người bị đề nghị có trong hồ sơ, đủ căn cứ xác định: N là người nghiện ma túy, không có nơi cư trú ổn định. Kể từ khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính của N cho đến khi hồ sơ được chuyển cho Tòa án, các cơ quan chức năng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Vì vậy, N thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Xét tính chất, mức độ, hành vi của N trong việc sử dụng ma túy là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy. Đối tượng có nhân thân xấu, đã có 1 tiền án về tội trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, N không có tiền sự, sau khi thực hiện hành vi đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Xét đề nghị của đại diện Phòng Lao động Thương binh & Xã hội huyện E đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N là có căn cứ, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 6, 95, 96, 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

đối với N.

Nơi chấp hành: Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk; Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện P, tỉnh Đắk Lắk.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan biết.

3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định. Phòng Lao động Thương binh & Xã hội huyện E có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân huyện E có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an huyện E có trách nhiệm thi hành quyết định này ngay sau khi quyết định có hiệu lực pháp luật.

Cỡ chữ