- Tranh chấp gì? Tranh chấp cá nhân — án dân sự — "tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Hồ Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 765/2023/QĐST-VDS V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích. | Lai vung ngày 30 tháng 11 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu Tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Ngô Thị Cẩm Hồng - Thẩm phán.
- Thư ký phiên họp: Ông Huỳnh Phát Đạt - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên họp: Bà Bùi Thị Thanh Thủy - Kiểm sát viên.
Vào ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 154/2023/TLST-VDS ngày 29/5/2023, về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số: 728/2023/QĐST-VDS ngày 21/11/2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Hồ Thị N, sinh năm: 1992. Địa chỉ: 5, ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Chổ ở hiện nay: 20, Đại lộ T, khu công nghiệp S, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Hoàng X, sinh năm: 1989. Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng trước khi mất tích: 558/4, ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu và tại phiên họp ngày 21/11/2023, chị cầu H yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lai Vung giải quyết tuyên bố một người mất tích đối với anh Trần Hoàng X, sinh năm: 1989. Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng trước khi mất tích: 558/4, ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Lý do chị N yêu cầu là nhằm mục đích xin ly hôn với anh X. Kèm theo yêu cầu khởi kiện chị N đã cung cấp Xác nhận thông tin về cư trú của Công an xã L xác nhận anh X không có mặt ở địa phương cách nay trên hai năm (từ tháng 02 năm 2020 đến nay), Giấy chứng nhận kết hôn, Trích lục kết hôn giữa chị N và anh X và các chứng cứ cho việc thông báo tìm kiếm anh X, được thể hiện qua việc thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng để tìm kiếm như: Trung tâm T1 tại thành phố Hồ Chí Minh (VTV9) đăng thông báo tìm anh X 03 ngày liên tiếp (ngày 05 -7/7/2023) và đăng B nhắn tin trên 3 số liên tiếp: 53, 54, 55 ra ngày 5, 7 và 12/7/2023 để tìm anh X nhưng anh X vẫn không có mặt ở địa phương và không liên lạc với Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, đến nay anh X vẫn không có tin tức gì xác nhận hiện nay anh X còn sống hoặc đã chết. Chị N yêu cầu Toà án giải quyết tuyên bố anh X mất tích, nhằm mục đích yêu cầu xin ly hôn với anh X.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung phát biểu quan điểm về thủ tục tố tụng và hướng giải quyết vụ việc:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý việc dân sự là đúng thẩm quyền, thực hiện đúng quy định về chuẩn bị xét đơn yêu cầu và thực hiện đúng thủ tục tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của chị N về việc tuyên bố anh X mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Lai Vung nhận định:
Về thẩm quyền: Chị X có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh X mất tích, xác định đây là việc dân sự yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo quy định tại Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015, khoản 3 Điều 27 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Anh X, địa chỉ nơi cư trú trước khi mất tích: 558/4, ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung được quy định tại khoản 2 Điều 35 và khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Chị N và anh X là vợ chồng, đăng ký kết hôn tại UBND xã L vào ngày 4/12/2014. Quá trình chung sống với nhau giữa chị N và anh X có một con chung tên Trần Hoàng T, sinh ngày 12/4/2015, vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẩn, đến tháng 02/2020 anh X bỏ nhà đi đâu không rõ, mặc dù chị N tìm kiếm anh X nhiều nơi nhưng không rõ địa chỉ và không có liên lạc được với anh X, ngày 22/02/2023 Công an xã L đã xác nhận anh X không có mặt ở địa phương từ tháng 02 năm 2020 cho đến nay. Chị N đã thông báo tìm kiếm anh X trên các phương tiện thông tin đại chúng để tìm kiếm như: Trung tâm T1 tại thành phố Hồ Chí Minh (VTV9) đăng thông báo tìm anh X 03 ngày liên tiếp (ngày 05 -77//2023) và đăng B nhắn tin trên 3 số liên tiếp: 53, 54, 55 ra ngày 5, 7 và 12/7/2023 để tìm kiếm anh X, nhưng đã 4 tháng qua không có tin tức gì về anh X.
Xét yêu cầu của chị N và đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên chấp nhận yêu cầu của chị N và thống nhất đề nghị của Kiểm sát viên.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Chị N phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149, khoản 2 Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 388, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của chị Hồ Thị N.
Tuyên bố anh Trần Hoàng X, sinh năm: 1989. Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng trước khi mất tích: 558/4, ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp mất tích.
2. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Hồ Thị N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015940, ngày 29/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
3. Người yêu cầu được quyền kháng cáo, Viện kiểm sát được quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định (30/11/2023).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND tỉnh, huyện Lai Vung; - CCTHADS huyện Lai Vung; - Các đương sự; - Lưu: HSVA (V). | THẨM PHÁN |