- Tranh chấp gì? "Ngô Văn T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối
- Căn cứ chính? Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 22 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Số: 76/QĐ-TA |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Đặng Thị Tâm.
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.
Ngày 17 tháng 11 năm 2020, tại Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh An
Giang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành
chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 83/QĐ-
TA ngày 12 tháng 11 năm 2020 đối với:
Ngô Văn T, sinh năm 1993; Giới tính: Nam;
Nơi đăng ký thường trú: Tổ 25, ấp B, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; chỗ
ở hiện nay: không có nơi cư trú ổn định;
Nghề nghiệp: Không;
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Phật
Trình độ văn hóa: 5/12;
Tiền án, tiền sự: Không.
Con ông Ngô Văn Trờ và bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết.
Có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Thanh Nhã – Cán bộ Phòng Lao
động - Thương binh và Xã hội thành phố K; là đại diện theo ủy quyền (Văn bản
ủy quyền số 78/UQ-PLĐTBXH ngày 11/11/2020).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố K tham gia phiên họp: Ông
Nguyễn Thành Thái – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Ngày 10/10/2020, Ngô Văn T bị Công an phường S, thành phố K đưa đi xét
nghiệm tìm chất ma túy bên trong cơ thể T, kết quả dương tính chất
Methamphetamin và Morphin. T cũng thừa nhận việc sử dụng trái phép chất ma túy. Đồng thời, Công an phường S, thành phố K lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với T.
Theo kết quả xác minh ngày 10/10/2020 tại khóm V, phường S, thành phố K,
tỉnh An Giang và kết quả xác minh ngày 15/10/2020 tại Công an xã V, huyện T, tỉnh An Giang cho biết: T không có đăng ký thường trú, tạm trú hay đang lưu trú trên địa bàn khóm V; T có đăng ký thường trú tại tổ 15, ấp B, xã V, huyện T, tỉnh An Giang nhưng từ đầu năm 2020, T đã bỏ địa phương đi cho đến nay.
Ngày 10/10/2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường S, thành phố Châu Đốc
ban hành Quyết định 420/QĐ-UBND về việc giao cho cơ sở tiếp nhận đối tượng xã hội tỉnh An Giang quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T.
Ngày 19/10/2020, Công an phường S, thành phố K ban hành Đề nghị số
356/ĐN-CAP đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố K xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ngô Văn T, nhằm giúp đỡ T có cơ hội cai nghiện, học nghề.
Theo Thông báo số 84/TB-PTP ngày 06/11/2020, Phòng Tư pháp thành
phố K đã kết luận, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với T bảo đảm về tính pháp lý.
Ngày 11/11/2020, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành
văn bản số 78/PLĐTBXH đề nghị Tòa án nhân dân thành phố K áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ngô Văn T với thời hạn tập trung từ 18 tháng đến 24 tháng.
Tại phiên họp:
- Đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố K giữ
nguyên quan điểm đề nghị.
- Ngô Văn T thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy như hồ sơ thể
hiện, thống nhất với kết quả xác minh về nơi cư trú và xin áp dụng thời gian cai nghiện thấp.
- Đại diện Viện Kiểm sát thành phố K tham gia phiên họp phát biểu quan
điểm: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ việc từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Tòa án đã thực hiện đúng quy định pháp luật tại Điều 3, Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 14, Điều 16, Điều 17, Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2014.
Căn cứ công văn đề nghị số 78 ngày 11/11/2020 của Phòng Lao động -
Thương binh và Xã hội thành phố K thì thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố K theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh 09 ngày 20/01/2014. T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy lần cuối ngày 10/10/2020, Tòa án nhân
dân thành phố K thụ lý là còn thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6
Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
Ngô Văn T, sinh năm 1993 là người nghiện ma túy trên 18 tuổi, không có
nơi cư trú ổn định, nên đề nghị đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đủ điều
kiện quy định tại Điều 95, 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
Đề nghị Toà án nhân dân thành phố K chấp nhận đề nghị của Phòng Lao
động - Thương binh và Xã hội thành phố K áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ngô Văn T.
XÉT THẤY:
* Về tố tụng:
Hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố K
đúng quy định tại Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
* Về nội dung:
Lời khai nhận của Ngô Văn T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là
phù hợp với kết quả xét nghiệm của cơ quan chuyên môn; phù hợp với tường
trình của T và biên bản vi phạm hành chính do Công an phường S, thành phố K
lập ngày 10/10/2020, cùng các tài liệu khác thể hiện trong hồ sơ vụ án.
Kết quả xác minh tình trạng cư trú của Ngô Văn T được xác định: Ngô
Văn T, sinh năm 1993 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 25, ấp B, xã V,
huyện T, tỉnh An Giang. Từ đầu năm 2020 cho đến nay T không thường xuyên
sinh sống tại địa phương mà bỏ địa phương đi đâu không rõ, làm gì ở đâu. Đồng
thời, T không sinh sống, không đăng ký hộ khẩu thường trú hay tạm trú tại khu
vực khóm V, phường S, thành phố K, tỉnh An Giang.
Việc T sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an phường S phát hiện và
T cũng không chứng minh được việc thường xuyên sinh sống tại tổ 25, ấp B, xã
V, huyện T, tỉnh An Giang. Từ đó, T được xem là không có nơi cư trú ổn định.
Xét, T đủ 18 tuổi, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và không có
nơi cư trú ổn định. Do đó, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố
K đề nghị đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đủ điều kiện theo quy định tại
Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nên chấp nhận.
Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ : T có thái độ thành khẩn khai báo là
tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính năm
2012. Cho nên, cần xét giảm nhẹ cho T khi quyết định thời hạn áp dụng biện
pháp xử lý hành chính.
Vì các lẽ trên,
Áp dụng khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 104,
Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; các Điều 22, 23, 31 Pháp
lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết
định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối
với Ngô Văn T, sinh năm 1993; nơi đăng ký thường trú: Tổ 25, ấp B, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: không có nơi cư trú ổn định.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm)
tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 10 tháng 10 năm 2020).
3. Thời hạn kiến nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành
phố K và thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố K là 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.
Thời hạn khiếu nại của Ngô Văn T là 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án
công bố Quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,
kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an nhân dân thành phố K chủ trì
phối hợp với Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố K đưa Ngô Văn T vào Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - Trưởng Phòng LĐ, TB, XH TP. K; - Ủy ban nhân dân phường S; - Công an phường S; - Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh AG; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố; - Tòa án Tỉnh AG - Đội CSĐTTPMT-CA TP. K; - Công an TP.K; - Lưu VP; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Đặng Thị Tâm |