vanban.org

Quyết định 76/2023/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị G và anh Bùi Văn G.

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: 1 Về quan hệ hôn nhân: chị G và anh G thuận tình ly hôn; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dưng Thượng"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị G và anh Bùi Văn G.
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠC SƠN
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 76/2023/QĐST-HNGĐLạc Sơn, ngày 02 tháng 10 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 68/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 06 năm 2023, giữa: chị Bùi Thị G, sinh năm 1982 và anh Bùi Văn G, sinh năm 1974. Nơi cư trú: xóm Thêu, xã Quý Hòa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình và Ngân hàng chính sách xã hội huyện Lạc Sơn.

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 55; 81; 82; 83; 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 22 tháng 09 năm 2023.

XÉT THẤY

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 22 tháng 09 năm 2023 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị G và anh Bùi Văn G.

2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

2.1 Về quan hệ hôn nhân: chị G và anh G thuận tình ly hôn;

2.2 Về con chung: Có 02 con chung là Bùi Thị Bích, sinh ngày 01/02/2005 và Bùi Thị Ngọc Nhi, sinh ngày 11/8/2009. Khi ly hôn, hai bên thống nhất giao cháu Nhi cho chị G trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục từ tháng 09/2023 cho đến khi cháu Nhi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Riêng cháu Bích đã trưởng thành và có gia đình riêng, đủ khả năng lao động nên các bên không đặt vấn đề nuôi dưỡng con.

Sau khi ly hôn pháp luật vẫn bảo hộ các quyền của cha mẹ với con chưa thành niên (quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được quyền cản trở; quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con; quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con). Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

2.3 Về tài sản: Không có;

2.4 Về công nợ chung: Hai bên có nợ Ngân hàng chính sách xã hội huyện Lạc Sơn 35.000.000đ (Ba mươi lăm triệu đồng) gốc và lãi. Khi ly hôn, hai bên đề nghị Toà án ghi nhận thoả thuận mỗi bên có trách nhiệm trả nợ ½ số nợ gốc và lãi trên cụ thể: chị G, anh G mỗi người phải có trách nhiệm trả 17.500.000đ (Mười bảy triệu năm trăm nghìn đồng).

2.5 Về án phí: chị G tự nguyện nộp toàn bộ 150.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ với 300.000đ tạm ứng phí chị G đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004497 ngày 02 tháng 06 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn. Nay chị G được hoàn lại 150.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ