vanban.org

Quyết định 76/2023/QĐ-PT — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản

TAND tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 22/05/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/05/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 13/2023/QĐST-DS, ngày 22 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện MT, tỉnh VL và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện MT, tỉnh VL để tiếp tục giải quyết vụ án.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn trả cho chị Huỳnh Thị TA số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007672 ngày 31/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện MT, tỉnh VL. Quyết định này có hiệu lực pháp luật để từ ngày ra quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản — án dân sự — "AN - MUOI (CHIATS)"
  • Tòa quyết gì? Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 13/2023/QĐST-DS, ngày 22 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện MT, tỉnh VL và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện MT, tỉnh VL để tiếp tục giải quyết vụ án.
  • Căn cứ chính? Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 76/2023/QĐ-PTVĩnh Long, ngày 22 tháng 5 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Nguyên Khoa.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Tuấn

Bà Nguyễn Thị Tư.

Tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 13/2023/QĐST-DS, ngày 22 tháng 3 năm 2023.

Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long đã căn cứ vào các Điều 48, 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp chia tài sản chung” giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị TA, sinh năm 1989

Địa chỉ: Ấp PTA, xã NP, huyện MT, tỉnh VL.

2. Bị đơn: Bà Huỳnh Thị M, sinh năm 1966

Địa chỉ: Ấp PTA, xã NP, huyện MT, tỉnh VL.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Chị Huỳnh Thị TN, sinh năm 1990

Địa chỉ: Ấp PTA, xã NP, huyện MT, tỉnh VL.

3.2. Công ty xăng dầu VL

Địa chỉ: Số 114A, LTT, Phường 2, thành phố VL, tỉnh VL.

3.3. Chi cục Thi hành án dân sự huyện MT

Địa chỉ: Khóm 1, thị trấn CN, huyện MT, tỉnh VL.

Tại đơn kháng cáo ngày 31/3/2023 của nguyên đơn chị Huỳnh Thị TA với lý do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Huỳnh Thị TN đã có văn bản ủy quyền cho chị A đại diện tham gia việc phân chia tài sản liên quan trong vụ án này nên không đồng ý với quyết định đình chỉ và đề nghị Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án.

Tại Quyết định kháng nghị số: 134/QĐNKPT-VKS-DS, ngày 30/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện MT, tỉnh VL với lý do: Ngày 25/3/2022, Công an xã NP xác nhận nơi sinh sống của chị Huỳnh Thị TN, sinh ngày 24/9/1990, đăng ký thường trú tại ấp PTA, xã NP, huyện MT, tỉnh VL. Hiện nay không có mặt ở địa phương, cũng đồng nghĩa là chị N có nơi cư trú cuối cùng quy định tại điểm e khoản 4 Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ khoản điểm e khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì không trả lại đơn khởi kiện và vẫn tiến hành giải quyết theo thủ tục chung. Do đó, Tòa án nhân dân huyện MT đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là chưa phù hợp với quy định tại Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

XÉT THẤY:

Chị Huỳnh Thị TA khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung do chị A cùng với bà Huỳnh Thị M (mẹ ruột chị A) và chị Huỳnh Thị TN (em ruột chị A) là đồng sở hữu và sử dụng số tài sản gồm: 01 căn nhà cấp 4 gắn liền thửa đất số 366, diện tích 176,5m2, tờ bản đồ số 02, loại đất thương mại, dịch vụ, tọa lạc tại ấp PTA, xã NP, huyện MT, tỉnh VL, do hộ bà Huỳnh Thị M đứng tên quyền sử dụng đất, được Ủy ban nhân dân huyện MT cấp giấy ngày 18/6/2015; 01 căn nhà cấp 4 gắn liền thửa đất số 224, diện tích 185,5m2, tờ bản đồ số 02, loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại ấp PTA, xã NP, huyện MT, tỉnh VL, do hộ bà Huỳnh Thị M đứng tên quyền sử dụng đất, được Ủy ban nhân dân huyện MT cấp giấy ngày 10/02/2015.

Do bà Huỳnh Thị M chưa thanh toán số tiền còn nợ Công ty xăng dầu VL là 91.000.000 đồng theo Bản án kinh doanh thương mại số 03/2018/KDTM-PT ngày 16 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh VL, nên Chi cục Thi hành án dân sự huyện MT ra Thông báo số 261/TB-THADS ngày 07/6/2022 để hộ bà Huỳnh Thị M khởi kiện tại Tòa án xác định phân chia tài sản chung. Đồng thời, cơ quan thi hành án đã kê biên, xử lý tài sản của bà M là hai thửa đất 336, 224 và tài sản gắn liền với đất. Vì vậy, chị A yêu cầu chia tài sản nói trên thành 03 phần bằng nhau, mỗi người nhận 1/3.

Ngày 03/02/2023, Tòa án nhân dân huyện MT có công văn đề nghị Công an xã NP, huyện MT xác nhận về nơi cư trú của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Huỳnh Thị TN.

Ngày 17/02/2023, Công an xã NP có công văn phúc đáp cho Tòa án với nội dung “Đ/s Huỳnh Thị TN, sinh ngày 24/9/1990 có đăng ký thường trú tại ấp PTA, xã NP, huyện MT, tỉnh VL. Hiện nay không có mặt ở địa phương. Năm 2015 đi du học tại Mỹ, học xong đi làm và ít về địa phương, không có liên lạc về gia đình nên không biết còn ở Mỹ hay đang ở đâu, làm gì không rõ”.

Ngày 22/02/2013, Tòa án nhân dân huyện MT lấy lời khai nguyên đơn chị Huỳnh Thị TA về nơi ở hiện nay của chị N, nhưng nguyên đơn chỉ biết chị N du học tại Mỹ cách nay 08 năm và hiện nay không biết đang sinh sống ở nước nào.

Ngày 22/3/2023, Tòa án nhân dân huyện MT ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ hiện nay của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị TN và Tòa án đã thu thập chứng cứ không xác định được địa chỉ mới của chị N.

Nhận thấy, trong đơn khởi kiện của chị Huỳnh Thị TA đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Huỳnh Thị TN tại ấp PTA, xã NP, huyện MT, tỉnh VL phù hợp với xác nhận ngày 25/3/2022 và Công văn số 06/CV-CAX ngày 17/02/2023 của Công an xã NP, huyện MT. Như vậy, chị A đã ghi rõ địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của chị N theo quy định tại điểm e khoản 4 Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong trường hợp này chị N thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho chị A không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với chị A thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định chị N cố tình giấu địa chỉ và tiến hành giải quyết theo thủ tục chung.

Thêm nữa, sau khi Tòa án nhân dân huyện MT ra quyết định đình chỉ, đến ngày 31/3/2023 thì chị A có cung cấp Hợp đồng ủy quyền ngày 02/4/2022, theo đó bên ủy quyền chị Huỳnh Thị TN và bên nhận ủy quyền chị Huỳnh Thị TA thay mặt và nhân danh bên ủy quyền tham gia giải quyết việc phân chia tài sản chung và vấn đề nợ của bà Huỳnh Thị M, tham gia hòa giải tại địa phương và tham gia tố tụng tại Tòa án các cấp. Như vậy, chị N đã có người đại diện tham gia tố tụng nên Tòa án nhân dân huyện MT vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Từ những nhận định trên, xét kháng cáo của nguyên đơn và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện MT là có cơ sở chấp nhận.

Căn cứ vào Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 13/2023/QĐST-DS, ngày 22 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện MT, tỉnh VL và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện MT, tỉnh VL để tiếp tục giải quyết vụ án.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn trả cho chị Huỳnh Thị TA số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007672 ngày 31/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện MT, tỉnh VL.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật để từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ