vanban.org

Quyết định 76/2017/QĐ-TA

TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 25/10/2017 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thị Thu S.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiế… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Thị Thu S"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thị Thu S.
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 11 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 76/2017/QĐ-TABuôn Ma Thuột, ngày 25 tháng 10 năm 2017

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh.

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu.

Ngày 25 tháng 10 năm 2017, tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk tiến hành phiên họp để xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 75/2017/QĐ-MPH ngày 18/10/2017 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Thị Thu S; Giới tính: Nữ;

Sinh ngày: 30/4/1997;

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Trình độ văn hóa: 10/12;

Nguyên quán: Nghệ An;

Hộ khẩu thường trú: Thôn S, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

Chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định;

Tiền án: 01; Tiền sự: Không;

Con ông Nguyễn Đình H và con bà Lê Thị Q.

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng lao động thương binh và xã hội thành phố Buôn Ma Thuột: Ông Nguyễn Tiến Cường – Phó trưởng phòng Phòng Lao động thương binh và xã hội tỉnh Đắk Lắk.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk: Ông Y Lương Byă - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Vào 02 giờ 00 phút ngày 08/9/2017, đối tượng Nguyễn Thị Thu S sử dụng trái phép chất ma túy tại khu vực phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk thì bị lực lượng Công an thành phố B phát hiện đưa về làm việc. Lực lượng Công an thành phố B đã đưa Nguyễn Thị Thu S đi xét nghiệm chất ma tuý tại Bệnh viện đa khoa thành phố B. Kết quả xác định Nguyễn Thị Thu S là người nghiện ma tuý, loại ma tuý đá. Công an thành phố B đã lập biên bản vi phạm hành chính số 27349/BB-VPHC, ngày 08/9/2017 đối với Nguyễn Thị Thu S về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

Qua công tác lấy lời khai tại Công an thành phố B thì Nguyễn Thị Thu khai nhận: Bản thân là người nghiện ma tuý từ cuối năm 2016 đến nay, loại ma tuý sử dụng và nghiện là ma túy đá, hình thức sử dụng hút. Nguyễn Thị Thu S có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn S, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông kể từ năm 2010 cho đến nay, nhưng đã bỏ đi khỏi địa phương từ tháng 5/2017 không có nơi cư trú nhất định. Vào 02 giờ 00 phút, ngày 08/9/2017 đối tượng Nguyễn Thị Thu S sử dụng trái phép chất ma túy tại khu vực trước số nhà 03 đường A, phường E, thành phố B thì bị Công an phát hiện đưa về làm việc.

Qua xác minh tại nơi cư trú xác định: Nguyễn Thị Thu S – Sinh năm 1997 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Thôn S, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông từ năm 2010 cho đến nay, có 01 tiền án về cố ý gây thương tích, đã bỏ đi khỏi địa phương từ tháng 5/2017 nên địa phương không quản lý được.

Tại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, người bị đề nghị là Nguyễn Thị Thu S không có ý kiến gì.

Ý kiến của đại diện Phòng lao động thương binh xã hội thành phố B: Sau khi xem xét các quy định hiện hành, mức độ vi phạm của đối tượng và căn cứ vào hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thị Thu S do Công an thành phố B lập đã thể hiện Nguyễn Thị Thu S không có nơi ở nhất định nghiện ma túy, loại ma túy đá. Do vậy, Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố B đã ban hành công văn số 402/LĐTB&XH-PCTNXH ngày 09/10/2017 chuyển toàn bộ hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân thành phố B xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thị Thu S tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk với thời hạn 18 - 24 tháng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B: Tòa án nhân dân thành phố B đã tuân thủ theo đúng quy định của pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân về thụ lý hồ sơ, ra quyết định mở phiên họp và trình tự thủ tục tiến hành phiên họp; đảm bảo cho người tham gia phiên họp thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định.

Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố B áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thị Thu S tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk với thời hạn 18 - 24 tháng.

XÉT THẤY:

Sau khi xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; sau khi nghe ý kiến của cơ quan đề nghị là Phòng lao động, thương binh xã hội thành phố B, sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính, đã có đủ căn cứ để xác định:

Nguyễn Thị Thu S nghiện ma túy, loại ma túy đá, xác định được nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn S, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông nhưng đã bỏ đi khỏi địa phương từ tháng 5/2017 cho đến nay không có nơi cư trú nhất định. Xét hành vi vi phạm của Nguyễn Thị Thu S không có tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm b khoản 1, Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính và không có tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính nhưng có tính liên tục gây ảnh hưởng xấu đến bản thân và xã hội nên để tạo điều kiện cho Nguyễn Thị Thu S chữa bệnh, lao động, học tập, học nghề cần chấp nhận đề nghị của Phòng lao động, thương binh xã hội thành phố B, quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thị Thu S.

Xét về mặt trình tự thủ tục lập hồ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thị Thu S, Phòng lao động, thương binh xã hội thành phố B đầy đủ và hợp lệ theo quy định tại các Điều 6, Điều 95, Điều 96, Điều 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; các Điều 3, Điều 4, Điều 8, Điều 9, Điều 11 và Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 95, Điều 96, khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; Các Điều 3, Điều 4, Điều 8, Điều 9, Điều 11 và Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Điều 22 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định vể trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thị Thu S.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng lao động, thương binh và xã hội thành phố B./.

Cỡ chữ