vanban.org

Quyết định 756/2024/QĐ-PT

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 22/07/2024 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/07/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của ông Lê Quang T.

Huỷ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 359/2024/QĐST-HC ngày 20/02/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục giải quyết vụ án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Người khởi kiện: Ông Lê Quang T-Người bị kiện: Ủy ban nhân dân Thành phố H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của ông Lê Quang T.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Luật Tố tụng hành chính; Điều 144 Luật Tố tụng hành chính; Điều 243 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 756/2024/QĐ-PTThành phố Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 7 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đinh Ngọc Thu Hương

Các Thẩm phán:

Ông Đặng Văn Ý

Bà Trần Thị Hoà Hiệp

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Vũ Thanh Sơn - Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 39/2024/QĐST-HC ngày 20 tháng 02 năm 2024.

Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ vào khoản 5 Điều 38, điểm h khoản 1 Điều 143 và Điều 144 của Luật Tố tụng hành chính quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính” giữa:

- Người khởi kiện: Ông Lê Quang T, sinh năm 1952.

Địa chỉ: Số C đường H, Phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân Thành phố H.

Địa chỉ: Số H đường L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 04/3/2024, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận được đơn kháng cáo của ông Lê Quang T có nội dung yêu cầu hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 39/2024/QĐST-HC ngày 20 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

XÉT THẤY:

Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận định: Quyết định hành chính số 4708/QĐ-UB ngày 14/11/2002 của Ủy ban nhân dân Thành phố H có nội dung thu hồi 13.174m2 đất tại phường B, Quận B và giao cho Công ty Cổ phần H sử dụng 13.462m2 đất trong đó gồm toàn bộ diện tích đất thu hồi nêu trên và 288m2 là rạch để đầu tư xây dựng khu nhà ở kinh doanh. Quyết định hành chính số 4708/QĐ-UB ngày 14/11/2002 của Ủy ban nhân dân Thành phố H không có danh sách cụ thể của các tổ chức, cá nhân có đất bị thu hồi và Quyết định hành chính số 4708/QĐ-UB ngày 14/11/2002 của Ủy ban nhân dân Thành phố H không phải là quyết định hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể nên không phải là quyết định hành chính bị kiện là không chính xác.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính thì Quyết định số 4708/QĐ-UB ngày 14/11/2002 của Ủy ban nhân dân Thành phố H là quyết định hành chính được áp dụng một lần đối với một số đối tượng cụ thể trong đó có ông Lê Quang T. Mặc dù, Quyết định hành chính số 4708/QĐ-UB ngày 14/11/2002 của Ủy ban nhân dân Thành phố H không có tên ông T nhưng thực tế ông T bị ảnh hưởng. Việc này được thể hiện qua các bút lục có trong hồ sơ:

(Bút lục 27) Công ty Cổ phần H có văn bản ngày 03/12/2018 gửi U và Phòng T1 đã có báo cáo việc giải tỏa, đền bù giải phóng mặt bằng còn vướng ở lô A4, A5 vì đây là thửa đất của hộ gia đình ông Lê Quang T và ông Lê Đình A chỉ chấp nhận cho đền bù giải toả đất nằm trên đường giao thông và vỉa hè, còn đất thuộc nền A4, A5 gia đình ông A, ông T xin tái định cư tại chỗ nên không nhận tiền đền bù. Kèm theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp, diện tích nằm trong dự án là 2.089 m2, thửa số 1872 còn thửa số 1871 diện tích không nằm trong dự án của Công ty Cổ phần H, giấy xác nhận đền bù cho ông T, ông A, cùng 02 đơn xin tái định cư tại chỗ, dẫn đến khiếu nại có liên quan đến lô A4.

(Bút lục 90) U có văn bản số 4888/UBND-TNMT ngày 26/12/2018 có ý kiến như sau: Ngày 14/11/2002, Ủy ban nhân dân Thành phố H có Quyết định hành chính số 4708/QĐ-UB nội dung thu hồi 13.174 m2 đất tại phường B, Quận B và giao cho Công ty Cổ phần H sử dụng 13.462 m2 đất trong đó gồm toàn bộ diện tích đất thu hồi nêu trên và 288m2 là rạch để đầu tư xây dựng khu nhà ở kinh doanh. Dự án nêu trên không có phương án bồi thường giải phóng mặt bằng (chủ đầu tư dự án tự thoả thuận bồi thường), ngày 03/12/2018 Công ty Cổ phần H có báo cáo về bồi thường giải phóng mặt bằng và tiến độ thực hiện dự án việc giải tỏa đền bù giải phóng mặt bằng còn vướng ở lô A4, A5 vì đây là thửa đất của hộ gia đình ông Lê Quang T và ông Lê Đình A chỉ chấp nhận cho đền bù giải toả đất nằm trên đường giao thông và vỉa hè, còn đất thuộc nền A4, A5 gia đình ông A, ông T xin tái định cư tại chỗ nên không nhận tiền đền bù. Hiện nay, dự án khu nhà ở do Công ty Cổ phần H làm chủ đầu tư tại phường B, Quận B chưa hoàn tất công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng.

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 78 Luật Tố tụng hành chính thì người bị kiện có trách nhiệm cung cấp cho Toà án hồ sơ giải quyết và bản sao các văn bản mà căn cứ vào đó để ra quyết định thu hồi đất, thể hiện diện tích đất của ông T có nằm trong hay ngoài diện tích thu hồi nêu trên.

Theo Văn bản số 361/BTNMT-ĐĐ ngày 30/01/2008 của Bộ T2 gửi Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H và Văn bản số 4475/TNMT-QHSDĐ ngày 03/6/2020 của Sở T (UBND Thành phố H) gửi UBND quận T hướng dẫn:

“Đối với các trường hợp thu hồi đất mà đã có quyết định thu hồi đất của UBND cấp tỉnh theo quy định của pháp luật về đất đai trước Luật đất đai năm 2003 thì UBND cấp huyện không phải ban hành quyết định thu hồi diện tích đất cụ thể đối với từng thửa đất do hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư sử dụng”.

Do đó, Hội đồng phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông Lê Quang T, huỷ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 39/2024/QĐST-HC ngày 20 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục giải quyết vụ án như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp đề nghị.

Căn cứ vào Điều 243 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận kháng cáo của ông Lê Quang T.

Huỷ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 359/2024/QĐST-HC ngày 20/02/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục giải quyết vụ án.

2. Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Lê Quang T không phải chịu.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM

Cỡ chữ