- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "yêu cầu tuyên bố một người là đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị B.
- Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 75/2023/QĐST-VDS |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người là đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Hoàng Sơn.
Thư ký phiên họp: Bà Châu Nguyễn Thanh Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thúy Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 379//2022/TLST-VDS ngày 04 tháng 10 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 07/2023/QĐST-VDS ngày 03 tháng 3 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Huỳnh Thị B, sinh năm 1956.
Địa chỉ: B8/7 ấp 2, xã Q, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Luật sư Nguyễn Hồng Thiên K - Công ty Luật TNHH Tâm Quang.
Địa chỉ: Số 105 đường 24, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bị yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1985
Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: B8/7 ấp 2, xã Q, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Trương Hoàng Thị Cẩm N, sinh năm: 1989.
2/ Em Nguyễn Trọng P, sinh ngày 12/02/2011.
Người đại diện hợp pháp cho em Nguyễn Trọng P là bà Trương Hoàng Thị Cẩm N (mẹ ruột của em P)
Cùng địa chỉ: A5/7 ấp 1, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Người yêu cầu và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn xin giải quyết vắng mặt)
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu đề ngày 19/8/2022 và bản tự khai ngày 14/10/2022 người yêu cầu là bà Huỳnh Thị B trình bày như sau:
Chồng của bà là ông Nguyễn Văn T mất vào năm 2006, khi mất không để lại di chúc. Quá trình chung sống, bà và ông Nguyễn Văn T có với nhau 05 (năm) người con chung trong đó có ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1985.
Năm 2009 ông T có đăng ký kết hôn với bà Trương Hoàng Thị Cẩm N, cả hai vợ chồng ông T và bà N sống chung với bà tại địa chỉ B8/7 ấp 2, xã Q, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông T và bà N có với nhau 01 người con chung tên là Nguyễn Trọng P, sinh ngày 12/02/2011, hiện nay trẻ P đang sống chung với bà N.
Khoảng tháng 02 năm 2017, ông T bỏ nhà đi biệt tích, không rõ đi đâu, không liên lạc với gia đình, gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng đến nay vẫn không có tin tức nào của ông T. Do đó, bà Huỳnh Thị B nộp đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự tuyên bố một người là đã chết đối với ông Nguyễn Hữu T để gia đình bổ túc hồ sơ khai di sản. Ngày 10/3/2023, bà B có đơn yêu cầu xin giải quyết vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trương Hoàng Thị Cẩm N đồng thời là người đại diện theo pháp luật của trẻ Nguyễn Trọng P cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có các lời khai trình bày tại các bản khai như sau:
Bà N và ông T bắt đầu chung sống vào năm 2009 và có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện B Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 13/11/2009. Quá trình chung sống ông bà có với nhau 01(một) người con chung tên là Nguyễn Trọng P, sinh ngày 12/02/2011 hiện nay trẻ P đang sống chung với bà N.
Bà xác nhận ông T đã bỏ nhà đi đâu không rõ từ tháng 02 năm 2017 đến nay. Bà thống nhất với lời trình bày của người yêu cầu là bà Huỳnh Thị B và không có ý kiến hay yêu cầu gì khác. Đồng thời bà N xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ việc do bận công việc không có thời gian đến Tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu quan điểm về việc giải quyết việc dân sự như sau:
Về thủ tục tố tụng thì việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, thời hạn mở phiên họp và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm mở phiên hợp đã thực hiện đầy đủ và đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung Viện kiểm sát nhân nhân huyện Bình Chánh đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh giải quyết theo hướng chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị B về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” đối với ông Nguyễn Hữu T theo quy định tại Điều 68, Điều 71 Bộ luật dân sự năm 2015.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án và thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ngày 19/8/2022 bà Huỳnh Thị B có Đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với ông Nguyễn Hữu T nộp tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ theo quy định tại Khoản 4 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì đây là yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Người bị yêu cầu là ông Nguyễn Hữu T có nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ: B8/7 ấp 2, xã Q, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh do đó việc giải quyết yêu cầu tuyên bố một người là đã chết nói trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Kết quả xác minh của Công an xã Q, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Giấy chứng nhận hộ khẩu thường trú số 31160013050 do Công an huyện Bình Chánh cấp ngày 10/6/2019 đối với nhà số B8/7 ấp 2, xã Q, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thì bà Huỳnh Thị B là mẹ ruột của ông T nên bà có quyền yêu cầu tuyên bố ông T là đã chết theo quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 71 của Bộ luật Dân sự năm 2015: “Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết ...”.
Về thủ tục tố tụng: Tại các bản tự khai ngày 14/10/2022 và ngày 10/3/2023 người yêu cầu và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng có yêu cầu xin vắng mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự. Căn cứ vào Khoản 2, Khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt các đương sự trên.
Về nội dung của việc giải quyết yêu cầu:
Yêu cầu của đương sự:
Bà Huỳnh Thị B có đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1985, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng tại B8/7 ấp 2, xã Q Đức, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vào tháng 02 năm 2017, ông T bỏ nhà đi biệt tích, không rõ đi đâu, không liên lạc với gia đình, gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng đến nay vẫn không có tin tức nào của ông T. Do đó, bà B nộp đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự tuyên bố một người là đã chết đối với ông Nguyễn Hữu T để gia đình bổ túc hồ sơ khai di sản.
Căn cứ pháp lý để giải quyết yêu cầu:
Căn cứ vào Phiếu trả lời xác minh của Công an xã Q, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 17/10/2022: “Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1985 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại B8/7 ấp 2, xã Q, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thời điểm đăng ký ngày 07/11/1985.
Hiện ông Nguyễn Hữu T không có thực tế cư trú tại đia phương, ông T bỏ đi khỏi địa phương từ tháng 02 năm 2017 đến nay.”
Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết số 14/2022/QĐ-TA ngày 21/10/2022. Bà Huỳnh Thị B đã đăng Báo Lao động là báo hàng ngày của Trung ương trong ba số liên tiếp (vào các ngày 01, 02 và 03 tháng 11 năm 2022); cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; phát sóng trên Đài truyền hình của Trung ương - Đài truyền hình Việt Nam (vào các ngày 02, 03 và 04 tháng 11 năm 2022) trên Kênh VTV9 theo quy định của pháp luật để tìm kiếm ông Nguyễn Hữu T theo thông báo tìm kiếm của Tòa án nhưng hết thời hạn 04 tháng vẫn không có tin tức của ông Nguyễn Hữu T.
Căn cứ Giấy chứng nhận hộ khẩu thường trú số 31160013050 do Công an huyện Bình Chánh cấp ngày 10/6/2019 đối với nhà số B8/7 ấp 2, xã Q, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện ông Nguyễn Hữu T, sinh năm: 1985, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: B8/7 ấp 2, xã Q, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó đến nay không có thông tin nào khác của ông T.
Từ những căn cứ trên, Tòa án xác định nơi cư trú cuối cùng của ông Nguyễn Hữu T là B8/7 ấp 2, xã Q, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, đã biệt tích hơn 05 năm (kể từ tháng 02 năm 2017 đến nay) và không có thông tin xác thực là ông T còn sống. Do đó, Tòa án có đủ cơ sở xác định ông T là đã chết theo quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 71 của Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Tòa án tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp ... Biệt tích năm năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại Khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này”.
Ông Nguyễn Hữu T đi khỏi địa phương, không có thông tin còn sống hay đã chết từ tháng 02 năm 2017 nên theo quy định tại Khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015, Tòa án xác định ngày biết được tin tức cuối cùng của ông T là ngày 01/3/2017.
Căn cứ vào điểm d Khoản 1 Điều 71 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Tòa án xác định ngày chết của ông Nguyễn Hữu T là ngày kế tiếp của ngày sau 05 (năm) năm kể từ ngày biết tin tức cuối cùng của ông T. Vì vậy, xác định ngày chết của ông T là ngày 02/3/2022.
Từ những nhận định trên của Tòa án là phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy, xét thấy bà Huỳnh Thị B yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết đối với ông Nguyễn Hữu T là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật, nên được chấp nhận.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Huỳnh Thị B là người cao tuổi và có Đơn xin miễn giảm lệ phí nên thuộc trường hợp được miễn nộp lệ phí theo quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Khoản 4 Điều 27; điểm a Khoản 2 Điều 35; Điều 361, 367, 370, 371, 372 và Điều 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 68 và Điều 71 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị B.
Tuyên bố: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1985; nơi cư trú cuối cùng: B8/7 ấp 2, xã Q, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết; ngày chết được xác định là ngày 02/3/2022.
Bà Huỳnh Thị B được quyền liên hệ với Cơ quan có thẩm quyền để tiến hành thủ tục khai tử cho ông Nguyễn Hữu T.
Khi quyết định này có hiệu lực thì các quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ khác về nhân thân của ông Nguyễn Hữu T được giải quyết như đối với người đã chết.
Quan hệ về tài sản của ông Nguyễn Hữu T được giải quyết như đối với người đã chết, tài sản thuộc quyền sỡ hữu của ông Nguyễn Hữu T được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Huỳnh Thị B được miễn nộp lệ phí theo điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Các đương sự có quyền kháng cáo Quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định này được thông báo, niêm yết theo quy định của pháp luật.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 (mười)ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKS ND H. Bình Chánh; - Chi cục THADS huyện Bình Chánh; - UBND xã Q, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Hoàng Sơn |