vanban.org

Quyết định 74/QĐ-TA

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 15/12/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Võ Văn T.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 21 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Tư vấn và Cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, Phòng Lao độ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Võ Văn T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Võ Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PLEIKU
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 74/QĐ-TAPleiku, ngày 15 tháng 12 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Lê Văn Nhàn.

2. Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Ngọc Hà.

Ngày 15 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 76/QĐ-TA ngày 08 tháng 12 năm 2020 đối với:

Họ và tên: Võ Văn T (Tên gọi khác: Tín). Giới tính: Nam.

Sinh ngày: 22 tháng 4 năm 1992.

Số CMND:

, ngày cấp:

, nơi cấp:

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: 9/12.

Nguyên quán: huyện B, tỉnh Q.

Hộ khẩu thường trú: Tổ 3, phường C, thành phố Pl, tỉnh G.

Chỗ ở: Tổ 3, phường C, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

Nghề nghiệp: Làm nông

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Con ông: Võ Văn H và bà Phạm Thị N.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Đoàn Hòa Bình - Chuyên viên của Phòng Lao động, Thương binh và xã hội thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai (theo văn bản ủy quyền số: 76/UQ-LĐTBXH ngày 15 tháng 12 năm 2020).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai: Bà Phạm Thị Thanh Trúc-Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Võ Văn T là đối tượng nghiện ma túy, có nơi cư trú ổn định, T bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2019 cho đến nay, loại ma túy mà T sử dụng là ma túy đá, sử dụng bằng hình thức hít trực tiếp ma túy bằng mũi vào phổi. Đối tượng T đã nhiều lần sử dụng ma tuý trên địa bàn thành phố Pleiku. Tháng 11 năm 2019 có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý bị Công an phường C lập hồ sơ đưa đi giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quyết định số: 105/QĐ- UBND ngày 25-11-2019 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường C. Tuy nhiên, đến ngày 15-10-2020 Võ Văn T có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý bị phát hiện và bị Công an phường C, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai lập biên bản xử lý vi phạm hành chính số: 0002827/BB-VPHC ngày 17-10-2020.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động-Thương binh và xã hội thành phố Pleiku đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Pleiku xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Võ Văn T với thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính được đảm bảo theo đúng trình tự, thủ tục của Luật xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20-01-2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

- Đồng ý với đề nghị của đại diện Phòng Lao động-Thương binh và xã hội thành phố Pleiku về quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Võ Văn T.

XÉT THẤY:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc:

Hồ sơ đầy đủ các tài liệu, giấy tờ theo quy định tại khoản 2 Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính và khoản 1 Điều 9 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09-9-2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Về hành vi vi phạm: Ngày 15 tháng 10 năm 2020, Võ Văn T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị phát hiện, Công an phường C, thành phố Pleiku lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 17-10-2020. Quá trình làm việc Võ Văn T đều khai nhận có việc sử dụng ma túy này.

Tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định T trạng nghiện ma túy ngày 17-10-2020 của Trạm Y tế phường C-Trung tâm y tế thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xác định Võ Văn T có nghiện ma túy: Thuộc nhóm ATS (Amphetamin Amphetamin MDMA). Phiếu trả lời này là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30-12-2013 của Chính phủ được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số: 136/NĐ-CP ngày 09-9-2016 của Chính phủ. Vì vậy, Tòa án có căn cứ khẳng định Võ Văn T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Về thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Kể từ ngày 15-10-2020, Võ Văn T thực hiện hành vi sử dụng ma túy trái phép lần cuối bị phát hiện và lập biên bản về hành vi sử dụng ma túy trái phép, đến ngày mở phiên họp vẫn còn trong thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 03 tháng theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30-12-2013 của Chính phủ và theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Trưởng Công an phường C lập hồ sơ đối với đối tượng Võ Văn T và ra Thông báo số: 116/TB – CAP ngày 17-10-2020, về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Nghị định số 221/2013/NĐ – CP ngày 30-12-2013 của Chính phủ. Cùng ngày, Võ Văn T được đọc hồ sơ.

Như vậy, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30-12-2013 của Chính phủ.

Võ Văn T bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2019; loại ma túy mà T sử dụng là ma túy đá. Ngoài ra, các lần sử dụng ma túy trước đây của Võ Văn T không bị phát hiện nên không có căn cứ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Võ Văn T có đủ nhận thức để nhận biết hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước về ma túy nhưng vẫn cố T sử dụng. Hành vi này của Võ Văn T không những ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của bản thân mà còn là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội.

Quá trình giải quyết vụ việc, đối tượng đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi; tích cực giúp đỡ cơ quan chức năng phát hiện vi phạm hành chính, xử lý vi phạm hành chính là T tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Vì vậy, cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Võ Văn T.

Căn cứ vào các Điều 7, 9, 95, 96, 103, 104, 105, 107 và 108 Luật xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ vào các Điều 22, 23, 24, 30, 31 và 32 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20-01-2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Căn cứ vào các Điều 4, 8 và 13 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ; căn cứ Điều 3, 9 Nghị định số: 136/2016/NĐ-CP ngày 09-9-2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ.

QUYẾT ĐỊNH:

Vì các lẽ trên;

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Võ Văn T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 21 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Tư vấn và Cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Pleiku có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku có quyền kháng nghị Quyết định của Tòa án. Riêng đối với đối tượng Võ Văn T có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày quyết định được tống đạt hợp lệ.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

Cỡ chữ