vanban.org

Quyết định 74/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Định Tuyên án 22/06/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/06/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Anh T. Sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt.

Xử phạt bị cáo Lê Anh T 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vô ý gây thương tích”. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (Ngày 22/6/2021). Giao bị cáo Lê Anh Tây cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bình Định giám sát và giáo dục trong thời gian… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vô ý gây thương tích - phạm tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 138 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Anh T. Sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2021/HS-PT
Ngày 22 - 6 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Thường

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Thanh Bình

Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phụng – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2021/TLPT-HS ngày 20 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo Lê Anh T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 16/2021/HS-ST ngày 15 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định.

Bị cáo có kháng cáo:

Lê Anh T - Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1985 tại huyện T, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn Q, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Nông; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn N – Sinh năm: 1963 và bà Trần Thị Đ – Sinh năm: 1965; vợ: Nguyễn Thị D – Sinh năm: 1986; con: Có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2009 và nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án: Không, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 12/01/2020, Lê Anh T đi tảo mộ cùng với ông Lê Văn T, ông Lê Văn N và ông Lê Thế D tại khu vực gò đất thuộc thôn Q, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Khi đi, T mang theo 01 máy cắt cỏ, không có khung bảo vệ lưỡi cắt. Trong lúc tảo mộ, T sử dụng máy cắt cỏ để cắt cỏ, cây mọc xung quanh các phần mộ thì bất ngờ lưỡi của máy cắt cỏ bị văng ra ngoài chém trúng đùi trái của ông D gây thương tích. Ông D được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định từ ngày 12/01/2020 đến ngày 22/01/2020, điều trị tại Bệnh viện chỉnh hình và phục hồi chức năng Quy Nhơn từ ngày 07/02/2020 đến ngày 06/3/2020, điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định từ ngày 16/3/2020 đến ngày 31/3/2020.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 274/2020/PY-TgT ngày 07/12/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định đã kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với ông D hiện tại là 61%.

Lê Anh T đã tự nguyện bồi thường cho ông D 28.200.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2021/HS-ST ngày 15 tháng 4 năm 2021, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định đã quyết định:

- Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội “Vô ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 138; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Lê Anh T 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

- Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về phần bồi thường thiệt hại, phần án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

Ngày 20/4/2021, bị cáo Lê Anh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Anh T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Anh T, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt; xử phạt bị cáo 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với các chứng cứ khác nên có đủ cơ sở xác định:

Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 12/01/2020, trong lúc đi tảo mộ tại khu vực gò đất thuộc thôn Q, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, Lê Anh T đã sử dụng máy cắt cỏ để cắt cỏ, cây mọc xung quanh các phần mộ thì bất ngờ lưỡi của máy cắt cỏ bị văng ra ngoài chém trúng đùi trái của ông D gây thương tích; hậu quả, ông D bị tổn thương cơ thể tỷ lệ là 61%.

Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2021/HS-ST ngày 15/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện T đã xét xử bị cáo Lê Anh T về tội “Vô ý gây thương tích” theo điểm b khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự là đúng quy định.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo 09 tháng tù là phù hợp.

Tuy nhiên, xét thấy hành vi của bị cáo là do lỗi vô ý; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã đưa ông D đi cấp cứu và đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại; bị cáo có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng. Căn cứ quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo thì bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Anh T; sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt; xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định cũng đủ có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung tội phạm.

Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo Lê Anh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Anh T. Sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt.

1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 138; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Anh T 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vô ý gây thương tích”. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (Ngày 22/6/2021).

Giao bị cáo Lê Anh Tây cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bình Định giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Anh T không phải chịu.

3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ