vanban.org

Quyết định 74/2019/QĐ-TA

TAND TX. Long Khánh, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 21/10/2019 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L.

Thời gian chấp hành tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đ, địa chỉ: Số 70, ấp Bình Tân, xã Xuân Phú, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đ là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần Minh L"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 19 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH Đ
Số: 74/2019/QĐ-TA
L, ngày 21 tháng 10 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH Đ

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán chủ trì phiên họp: Ông Lê Đăng Tố

2. Thư ký phiên họp: Ông Phạm Việt Dũng

Ngày 21 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Đ, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 78/2019/QĐ-TA ngày 10 tháng 10 năm 2019, đối với:

Họ và tên: L; giới tính: Nam; sinh ngày: 20-9-1991; giấy chứng minh nhân dân số: 272047335, ngày cấp: 20-9-2010, nơi cấp: Công an tỉnh Đ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 6/12; nguyên quán: Đ; nơi cư trú: Tổ 15, Khu phố 2, phường Phú Bình, thành phố L, tỉnh Đ; nghề nghiệp: Không; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 11-3-2019, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Phú Bình áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thời gian áp dụng 03 (Ba) tháng, chấp hành xong ngày 11-6-2019.

Con ông: Trần Văn Nguyên (chết), con bà: Huỳnh Thị Thanh, sinh năm: 1955

(vắng mặt không rõ lý do).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Văn Đức - Chức vụ: Cán bộ phụ trách công tác phòng, chống tệ nạn xã hội thuộc Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố L;

2. Đại diện Viện kiểm sát: Ông Nguyễn Văn Khánh - Chức vụ: Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố L.

NHẬN THẤY:

Quá trình thu thập tài liệu, xác minh thông tin, xác định được hành vi của L như sau: L sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2017. Ngày 19-12-2018, Long bị phát hiện sử dụng ma túy, Công an phường Phú Bình lập biên bản vi phạm hành chính và biên bản cảm hóa đối tượng, yêu cầu Long phải chấm dứt hành vi vi phạm.

Ngày 24-02-2019, Long tiếp tục bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy, đến ngày 11-3-2019, Long bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Phú Bình quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thời gian áp dụng 03 (Ba) tháng, chấp hành xong ngày 11-6-2019. Đến ngày 30-8-2019, Long tiếp tục bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà ở gia đình thuộc Khu phố 2, phường Phú Bình, thành phố L, tỉnh Đ và bị lập biên bản vi phạm hành chính cùng ngày. Theo kết quả xét nghiệm của Trạm y tế Phú Bình xác định, L có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng Methamphetamine (Ma túy đá).

Sau khi phát hiện, L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 12-9-2019, Công an phường Phú Bình đã ban hành Thông báo số 07/TB-CAP, về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L.

Ngày 23-9-2019, Phòng Tư pháp thành phố L ban hành Thông báo số 359/TB-PTP, về kết quả kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L.

Tại Công văn số 520/LĐTBXH ngày 30-9-2019, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố L đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đ đối với L, thời gian đề nghị là 24 (Hai mươi bốn) tháng.

Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị giữ nguyên quan điểm, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L, với thời gian áp dụng là 24 (Hai mươi bốn) tháng tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đ - ấp Bình Tân, xã Xuân Phú, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đ.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Quá trình từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp và tại phiên họp Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục; cơ quan đề nghị đã tuân thủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, riêng người bị đề nghị không chấp hành triệu tập của Tòa án, vắng mặt tại phiên họp không có lý do.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị đã được thẩm tra tại phiên họp, sau khi xem xét ý kiến của những người tham gia phiên họp, Tòa án nhận định như sau:

Về thủ tục mở phiên họp: Người bị đề nghị L mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên họp không rõ lý do, Tòa án căn cứ khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20-01-2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tiến hành phiên họp vắng mặt người bị đề nghị,

Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố L lập đúng thẩm quyền, đảm bảo thời hiệu áp dụng, việc lập hồ sơ, thẩm tra hồ sơ đã đúng quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 103; Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính và hướng dẫn tại các Điều 4, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 12 và Điều 13 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30-12-2013 (sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09-9-2016 của Chính phủ).

Về nội dung đề nghị: Căn cứ vào các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ đề nghị, đã có đủ cơ sở kết luận, L tính đến ngày bị lập biên bản sử dụng trái phép chất ma túy lần sau cùng là người đã thành niên, thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng vẫn tiếp tục sử dụng ma túy.

Căn cứ Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và hướng dẫn tại Điều 3 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30-12-2013 (sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09-9-2016 của Chính phủ) thì việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L như đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố L là có cơ sở chấp nhận.

Ma túy là chất gây nghiện, người nghiện ma túy ảnh hưởng đến thể chất và tinh thần, là nguyên nhân của các tội phạm khác. Do đó, cần thiết phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L, tạo điều kiện cho Long chữa bệnh, lao động, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của hành vi vi phạm hành chính: Quá trình lập hồ sơ đề nghị, Long tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính, Long không có tình tiết tăng nặng. Đây là các tình tiết mà Tòa án sẽ xem xét, khi quyết định thời gian buộc L phải chấp hành.

Về ý kiến của cơ quan đề nghị tại phiên họp là một phần phù hợp với nhận định trên, nên chấp nhận một phần đề nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L.

2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đ, địa chỉ: Số 70, ấp Bình Tân, xã Xuân Phú, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đ là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị để được xem xét, giải quyết. Người bị áp dụng có quyền khiếu nại quyết định trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố L và Công an thành phố L.

Cỡ chữ