vanban.org

Quyết định 738/2024/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND Quận 7, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 11/12/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn N, sinh năm 1957.

[1.1]. Tuyên bố ông Nguyễn BN, sinh năm 1953; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 29/7/2022 nơi cấp: Cục cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội; Đia chỉ: Số 22 Đường K, phường Q, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh là người mất năng lực hành vi dân sự. Bà Nguyễn N, sinh năm 1957; Căn cước cô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "tuyên bố một người MNLHVDS"
  • Tòa quyết gì? [1]. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn N, sinh năm 1957.
  • Căn cứ chính? Luật Thi hành án dân sự; Điều 136 Bộ luật Dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 738/2024/QĐST-DSQuận 7, ngày 11 tháng 12 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Trương Như Thủy.

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Chính Việt Phương – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Mộng Tuyền – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 549/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 760/2024/QĐST-DS ngày 22 tháng 11 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu: Bà Nguyễn N, sinh năm 1957;

Đia chỉ: Số 22 Đường K, phường Q, Quận 7, Tp. Hồ Chí Minh.

Người bị yêu cầu: Ông Nguyễn BN, sinh năm 1953;

Đia chỉ: Số 22 Đường K, phường Q, Quận 7, Tp. Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn V, sinh năm 1974;

2. Ông Nguyễn H, sinh năm 1977;

3. Bà Nguyễn T, sinh năm 1977;

4. Bà Nguyễn L, sinh năm 1981;

5. Ông Nguyễn NG, sinh năm 1983.

Cùng địa chỉ: Số 22 Đường K, phường Q, Quận 7, Tp. Hồ Chí Minh

(Các đương sự có đơn xin vắng mặt tại phiên họp).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu ngày 30/9/2024, bản tự khai bà Nguyễn N yêu cầu

Tòa án tuyên bố ông Nguyễn BN, sinh năm 1953 bị mất năng lực hành vi dân sự, để bà là người được giám hộ đương nhiên, thay mặt ông Nguyễn BN trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo đúng quy định pháp luật.

Bà Nguyễn N trình bày: Bà và ông Nguyễn BN, sinh ngày 20/5/1953 chung sống với nhau từ ngày 01/4/1974 nhưng đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 06/10/2003 (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 121, quyền số 01/2003 tại Ủy ban nhân dân phường Q, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh). Sau khi kết hôn cho đến nay ông bà chung sống tại địa chỉ số 22 đường K, phường Q, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà và ông Nguyễn BN có 05 (năm) con chung, gồm: Họ và tên: Nguyễn V; Nguyễn H; Nguyễn T; Nguyễn L; Nguyễn NG. Hiện nay, các con của ông bà đều cư trú cùng địa chỉ số 22 đường K, phường Q, quận 7, Thành hố Hồ Chí Minh.

Vào năm 2016, ông Nguyễn BN bị bệnh nặng, sa sút tinh thần kéo dài, khi nhớ khi quên, ảnh hưởng đến thần kinh nặng. Bà đưa ông Nguyễn BN đi khám, chữa bệnh tại Bệnh viện Tâm thần thường xuyên. Nhưng bệnh ngày càng nặng hơn, nay ông không tự chủ được trong sinh hoạt hàng ngày, hoàn toàn không còn tiếp xúc được với những người xung quanh, không hiểu biết được gì nữa.

Bà yêu cầu Tòa án nhân dân quận 7 giải quyết: Tuyên bố ông Nguyễn BN bị mất năng lực hành vi dân sự và chỉ đinh bà là người được giám hộ đương nhiên cho ông Nguyễn BN, để bà làm các thủ tục hành chính theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn V, ông Nguyễn Trọng Hiếu, bà Nguyễn T, bà Nguyễn L và ông Nguyễn NG trình bày: Ông bà là con ruột của ông Nguyễn BN và bà Nguyễn N, ông bà thống nhất trình bày của bà Nguyễn N, cụ thể:

Vào năm 2016, cha của ông bà ông Nguyễn BN bị bệnh tăng huyết áp đã bị sa sút tâm thần không xác định (F03), khi nhớ khi quên. Nhưng càng ngày nặng hơn, đôi lúc không tự chủ được sinh hoạt hàng ngày. Hiện nay bệnh tình cha rất nặng, hơn tháng nay cha của ông bà không còn tiếp xúc được với những người xung quanh, không còn hiểu biết được gì nữa.

Ông bà thống nhất với lời khai của mẹ là bà Nguyễn N, tuyên bố ông Nguyễn BN bị mất năng lực hành vi dân sự và chỉ đinh bà Nguyễn N là người được giám hộ đương nhiên cho ông Nguyễn BN, để bà Nguyễn N làm các thủ tục hành chính theo quy định pháp luật. Ông bà không có yêu cầu nào khác.

Bà Nguyễn V, ông Nguyễn H, bà Nguyễn T, bà Nguyễn L, ông Nguyễn NG có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:

1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên họp trong quá trình giải quyết vụ việc, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm mở phiên họp:

1.1 Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị phiên họp:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý được quy định tại các điều từ Điều 26 đến Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Việc xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các điều từ Điều 93 đến Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho các đương sự đúng quy định tại Điều 195 và Điều 196 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thời hạn chuẩn bị mở phiên họp đúng theo quy định tại Điều 366 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký tại phiên họp: Thẩm phán và thư ký đã thực hiện đúng các quy định chung về phiên họp sơ thẩm, thủ tục bắt đầu phiên họp, đảm bảo việc tranh tụng tại phiên họp theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

1.2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ việc, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm ra Quyết định:

Người yêu cầu thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 362, Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xin vắng mặt tại phiên họp.

2. Về việc giải quyết vụ việc: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn N về việc tuyên bố ông Nguyễn BN mất năng lực hành vi dân sự.

Về lệ phí: Người yêu cầu bà Nguyễn Thị Điệp Nhỏ được miễn lệ phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ và ý kiến của các đương sự có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

. Về tố tụng:

. Bà Nguyễn N yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn BN mất năng lực hành vi dân sự; Ông Nguyễn BN hiện cư trú tại địa chỉ số 22 đường K, phường Q, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, nên đây là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 1 Điều 27; Điểm a Khoản 2 Điều 35, Điểm a Khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

. Bà Nguyễn V, ông Nguyễn H, bà Nguyễn T, bà Nguyễn L, ông Nguyễn NG có đơn xin giải quyết vắng mặt có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, nên Tòa án nhân dân Quận 7 quyết định tiến hành mở phiên họp vắng mặt ông bà theo quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

. Về yêu cầu của đương sự:

. Xét yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn BN mất năng lực hành vi dân sự của bà Nguyễn N:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ: Bà Nguyễn N kết hôn với ông Nguyễn BN chung sống với nhau từ ngày 01/4/1974 nhưng đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 06/10/2003 (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 121, quyền số 01/2003 tại Ủy ban nhân dân phường Q, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh). Do đó, bà Nguyễn N có quyền đề nghị Tòa án tuyên bố ông Nguyễn BN mất năng lực hành vi dân sự.

Tòa án nhân dân Quận 7 ban hành Quyết định số 16/2024/QĐ-TCGĐ ngày 14/10/2024 để trưng cầu Trung tâm Pháp y Tâm thần Khu vực Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện giám định khả năng nhận thức và điều khiển hành vi dân sự của ông Nguyễn BN, sinh ngày 20/5/1953, căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx; địa chỉ cư trú số số 22 đường K, phường Q, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần số 8878/KLGĐ ngày 05/11/2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh đối với ông Nguyễn BN, sinh ngày 20/5/1953, căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ cư trú số số 22 đường K, phường Q, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận như sau: “Về y học: Đương sự bị Sa sút tâm thần do bệnh Alzheimer, khởi phát sớm (F00.0-ICD10); Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi... “

Căn cứ vào lời trình bày của bà Nguyễn N, Bà Nguyễn V, ông Nguyễn H, bà Nguyễn T, bà Nguyễn L, ông Nguyễn NG xác định việc ông Nguyễn BN bị sa sút tâm thần không xác định (F03), không tự chủ được sinh hoạt hàng ngày không còn tiếp xúc được với những người xung quanh, không còn hiểu biết được gì nữa là đúng. Do đó, bà Nguyễn N yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn BN là người mất năng lực hành vi dân sự là có cơ sở, phù hợp quy định tại Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được Tòa án chấp nhận.

Xét, bà Nguyễn N là vợ hợp pháp của ông Nguyễn BN nên bà là người được giám hộ đương nhiên cho ông Nguyễn BN. Mặt khác Bà Nguyễn V, Nữ, ông Nguyễn H, bà Nguyễn T, bà Nguyễn L, ông Nguyễn NG thống nhất và đồng ý để bà Nguyễn N là người được giám hộ đương nhiên cho ông Nguyễn BN để bà Nguyễn N làm các thủ tục hành chính theo quy định pháp luật là là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, nên được chấp nhận theo quy định của pháp luật, nên được chấp nhận theo quy định tại Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015.

. Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn N là phù hợp với nhận định trên của Tòa án.

. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Điệp Nhỏ được miễn lệ phí việc dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 27, điểm a Khoản 2 Điều 35, điểm a Khoản 2 Điều 39, Điều 227, Điều 361, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 376; Điều 377 và Điều 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 22; Điều 53; Điều 136 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ Luật thi hành án dân sự;

- Căn cứ vào Luật án phí, lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Khoản 1, Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

[1]. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn N, sinh năm 1957.

[1.1]. Tuyên bố ông Nguyễn BN, sinh năm 1953; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 29/7/2022 nơi cấp: Cục cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội; Đia chỉ: Số 22 Đường K, phường Q, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh là người mất năng lực hành vi dân sự.

Bà Nguyễn N, sinh năm 1957; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 29/07/2022 tại Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.

Là người giám hộ theo pháp luật của ông Nguyễn BN, sinh năm 1953; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 29/7/2022 nơi cấp: Cục cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội; Đia chỉ: Số 22 Đường K, phường Q, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh

[2]. Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Người yêu cầu bà Nguyễn N được miễn lệ phí theo quy định pháp luật.

[3]. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Nguyễn N, bà Nguyễn V, ông Nguyễn H, bà Nguyễn T, bà Nguyễn L và ông Nguyễn NG có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày tính từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết; Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 được quyền kháng nghị trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.

Cỡ chữ