- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản — án dân sự — "Tranh chấp lối đi qua bất động sản liền kề"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Hương Chí K là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Hương T và là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
- Căn cứ chính? Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 733/2023/QĐ-PT | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 13 tháng 7 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Bá Thịnh
Các thẩm phán:
Ông Nguyễn Đình Đức
Ông Lại Huỳnh Tú
- Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Long Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Võ Phạm Phương Hạnh - Kiểm sát viên tham gia phiên họp.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 102/2023/QĐST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh - Căn cứ vào các Điều 192, 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp lối đi qua bất động sản liền kề” giữa:
- Nguyên đơn: Ông Hương T, sinh năm 1931 (chết năm 2018).
Địa chỉ: 458/1 đường A, Phường B, Quận C, Thành phố D.
Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn:
1. Ông Hương Chí K, sinh năm 1957.
2. Ông Hương Chí C, sinh năm 1955.
3. Ông Hương Chí T1, sinh năm 1958.
4. Ông Hương Chí L, sinh năm 1960.
5. Ông Hương Chí L1, sinh năm 1962.
6. Bà Hương Diễm K1, sinh năm 1961.
Cùng địa chỉ: 458/1 đường A, Phường B, Quận C, Thành phố D.
- Bị đơn: Bà Hồng Thục V, sinh năm 1941 (chết năm 2020).
Địa chỉ: 458 đường A, Phường B, Quận C, Thành phố D.
Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn:
1. Ông Nhan Thiên P, sinh năm 1935.
2. Bà Nhan Minh N, sinh năm 1969.
3. Ông Nhan Quốc C1, sinh năm 1971.
4. Ông Nhan Quốc T2, sinh năm 1974.
Cùng địa chỉ: 458 đường A, Phường B, Quận C, Thành phố D.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Thế T3, sinh năm 1987. Địa chỉ liên lạc: 18A đường A1, phường B1, quận C1, Thành phố D.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Ủy ban nhân dân Thành phố D. Địa chỉ trụ sở: 86 đường A2, phường B2, Quận C2, Thành phố D. 2. Sở Xây dựng Thành phố D. Địa chỉ trụ sở: 60 đường A3, Phường B3, Quận C3, Thành phố D. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Vĩnh T4. Địa chỉ liên lạc: 60 đường A3, Phường B3, Quận C3, Thành phố D. 3. Công ty TNHH một thành viên Dịch vụ công ích Quận C. Địa chỉ trụ sở: 466 đường A, Phường B, Quận C, Thành phố D. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh T5. Địa chỉ liên lạc: 466 đường A, Phường B, Quận C, Thành phố D. 4. Bà Lê Liên H, sinh năm 1934 (chết năm 2022). 5. Ông Hương Chí K, sinh năm 1957. 6. Ông Hương Chí C, sinh năm 1955. 7. Ông Hương Chí T1, sinh năm 1958. 8. Ông Hương Chí L, sinh năm 1960. 9. Ông Hương Chí L1, sinh năm 1962. 10. Bà Hương Diễm K1, sinh năm 1961. 11. Bà Võ Thị C2, sinh năm 1972. 12. Bà Phan Thị N1, sinh năm 1983. 13. Bà Hương Gia P1, sinh năm 1992. 14. Ông Hương Gia H1, sinh năm 1996. Cùng địa chỉ: 458/1 đường A, Phường B, Quận C, Thành phố D. 15. Ông Nhan Thiên P, sinh năm 1935. Địa chỉ: 458 đường A, Phường B, Quận C, Thành phố D. Tại “Đơn kháng cáo” đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 102/2023/QĐST-DS ngày 26/4/2023 của Tòa án nhân dân Quận C, Thành phố D của ông Hương Chí K là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Hương T và là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án kháng cáo yêu cầu hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Với lý do tại công văn số 755/CV-QLN-CTY của công ty dịch vụ công ích và quản lý nhà Quận C (“Công ty”) - là đơn vị quản lý và ký hợp đồng cho hộ ông Hương T thuê xác nhận nội dung “…Công ty DVĐT & Quản lý nhà Quận C đồng ý cho ông Hương T, sinh năm 1931 là người thuê nhà số 458/1 A, Phường B, Quận C (thuộc sở hữu nhà nước) được khởi kiện tại Tòa án đối với diện tích đất lối đi…” Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố D tham gia phiên họp phát biểu quan điểm:
- Về thời hạn kháng cáo: Căn cứ Điều 273 BLTTDS năm 2015, đơn kháng cáo của ông Hương Chí K còn trong thời hạn luật định nên được xem xét.
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua việc kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
- Về nội dung: căn nhà số 458/1 A, Phường B, Quận C của ông Hương T thuộc trường hợp nhà do Nhà nước quản lý. Ông Hương T chỉ là người thuê nhà 458/1 A, Phường B, Quận C, Thành phố D. Do đó thì chủ sở hữu là Công ty dịch vụ và quản lý đô thị Quận C mới có quyền khởi kiện, ông Hương T không có quyền khởi kiện. Tại Công văn 755/CV-QLN-CTY ngày 28/5/2007 của công ty dịch vụ công ích và quản lý nhà Quận C không ủy quyền cho ông Hương T khởi kiện. Do đó đề nghị Hội đồng xét Quyết định giữ nguyên quyết định đình chỉ số 102/2023/QĐST-DS ngày 26/4/2023 của Tòa án nhân dân Quận C, Thành phố D.
XÉT THẤY:
Về hình thức: Ngày 16/5/2023, Tòa án nhân dân Quận C, Thành phố D tống đạt Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 102/2023/QĐST-DS ngày 26/4/2023 của Tòa án nhân dân Quận C, Thành phố D cho ông Hương Chí K là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Hương T và là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Ngày 22/5/2023 Tòa án nhân dân Quận C nhận đơn kháng cáo của ông Hương Chí K đối với Quyết định đình chỉ, do đó Căn cứ Điều 273 BLTTDS năm 2015, đơn kháng cáo của ông Hương Chí K là trong thời hạn luật định, thủ tục kháng cáo đúng theo quy định nên có cơ sở chấp nhận.
Về nội dung:
Theo “đơn khởi kiện” ngày 14/6/2007 ông Hương T khởi kiện tranh chấp lối đi chung; Đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 13/9/2007; ngày 28/12/2007 của ông Hương Chí K và Đơn xin bổ sung yêu cầu khởi kiện ngày 03/6/2008 của ông Hương Chí K là người đại diện ủy quyền của ông Hương T yêu cầu bà Hồng Thục V trả lại khoảng đất là lối đi theo nguyên trạng, hoặc bán lại để gia đình ông T làm lối đi vào nhà số 458/1 A, Phường B, Quận C của gia đình ông Hương Chí K.
Tuy nhiên căn cứ hợp đồng thuê nhà số 118 ngày 06/05/2008 thể hiện bên cho thuê nhà là Công ty dịch vụ và quản lý đô thị Quận C và bên thuê nhà là ông Hương T đối với căn nhà số 458/1 A, Phường B, Quận C số cũ là 458B. Ông Hương T khởi kiện tranh chấp lối đi với bất động sản liền kề là nhà 458 A, Phường B, Quận C của ông Nhan Thiên P và bà Hồng Thục V. Như vậy căn nhà 458/1 A, Phường B, Quận C của ông Hương T là nhà thuộc sở hữu và do nhà nước quản lý; ông Hương T chỉ là người được thuê nhà. Do đó nếu có tranh chấp thì chủ sở hữu mới có quyền khởi kiện nghĩa là Công ty dịch vụ và quản lý đô thị Quận C, Thành phố D. Tại Công văn 755/CV-QLN-CTY ngày 28/5/2007 có nội dung: “...bằng văn bản này Cty DVĐT & Quản lý nhà Quận C đồng ý cho ông Hương T, sinh năm 1931 là người thuê nhà số 458/1 A, Phường B – Quận C thuộc sở hữu nhà nước được khởi kiện tại Tòa án đối với diện tích đất lối đi (diện tích này ngoài diện tích cho thuê của Công Ty...)”. Mặt khác tại “bản tự khai” ngày 17/3/2023 của ông Nguyễn Minh T5, sinh năm 1975, chức vụ: Phó giám đốc là đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH MTV dịch vụ công ích Quận C là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, nội dung xác định: “Văn bản số 755/CV-QLN-CTY ngày 28/5/2007 của Công ty dịch vụ đô thị và quản lý nhà Quận C không phải là giấy ủy quyền cho ông Hương T... ” Như vậy, ông Hương T chỉ là người thuê nhà 458/1 A Phường B, Quận C, Thành phố D, ông T không được chủ sở hữu căn nhà ủy quyền khởi kiện. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ vụ kiện là có căn cứ phù hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự, nên không chấp nhận kháng cáo của ông Hương Chí K là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Hương T. Về án phí: Do ông Hương Chí K, sinh năm 1957 và có đơn xin miễn nộp án phí phúc thẩm, nên căn cứ quy định tại Điều 2, Luật người cao tuổi và điểm đ, khoản 1, Điều 12, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, ông Hương Chí K được miễn nộp tiền án phí phúc thẩm. Bởi các lẽ trên; Căn cứ vào Điều 148 và điểm c khoản 5 Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Hương Chí K là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Hương T và là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. 2. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 102/2023/QĐST-DS ngày 26/4/2023 của Tòa án nhân dân Quận C, Thành phố D. 3. Về án phí phúc thẩm: Ông Hương Chí K được miễn nộp tiền án phí phúc thẩm. 4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra Quyết định.
| Nơi nhận: - TANDTC; - TAND Cấp cao; - VKSND TP.HCM; - TAND Quận C20; - VKSND Quận C20; - Chi cục THADS Quận C20; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Bá Thịnh |