- Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thi D và Lê Thanh N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Lê Thị D và Chị Lê Thanh N về việc “yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi”
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 733/2022/QĐST-HNGĐ | Gò Vấp, ngày 31 tháng 5 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Kiều Oanh
Thư ký phiên họp: Bà Dương Thị Thảo Nguyên
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Đinh Hương Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 248/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2022 về việc “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số 10/2022/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
1. Bà Lê Thị D, sinh năm 1961; Địa chỉ: Số A, đường T, quận G,.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn N sinh năm 1974
(Văn bản ủy quyền lập ngày 05/4/2022)
2. Chị Lê Thanh N, sinh năm 2000; Địa chỉ: Số A, đường T, quận G,.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu, bản tự khai, người yêu cầu là bà Lê Thị D trình bày: Bà D nhặt được cháu Lê Thanh N khi cháu vừa được sinh ra và bị bỏ rơi gần nhà vào tối ngày 19/11/2000. Sau đó bà D đã làm thủ tục nhận nuôi cháu N theo Quyết định công nhận nuôi con nuôi số 01/QĐ/UB ngày 17/01/2001 của Ủy ban nhân dân Phường M, quận G, Tp. Hồ Chí Minh. Do bà D không lập gia đình nên bà nhận nuôi cháu N và nuôi cháu ăn học cho đến khi tốt nghiệp Trung học phổ thông vào năm 2019. Năm 2019, cháu N được xét tuyển vào Trường Đại học Văn Lang ngành Đông phương học, khóa học 04 năm. Hiện nay cháu N đã trưởng thành, đã tự đi làm để lo cho cuộc sống riêng của mình nên bà D và cháu N thỏa thuận tự nguyện yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà D và cháu N.
Tại bản tự khai ngày 27/4/2022, chị Lê Thanh N trình bày: Chị N được bà D nhận làm con nuôi theo Quyết định công nhận nuôi con nuôi số 01/QĐ/UB ngày 17/01/2001 của Ủy ban nhân dân Phường M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Nay chị đã trưởng thành, đã tự đi làm và có thu nhập riêng để chăm lo cho bản thân nên chị và bà D cùng thống nhất yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi. Vì lý do công việc nên chị N đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt.
Tại phiên họp: người đại diện hợp pháp của bà D là ông Nguyễn Văn N vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu. Chị N: có đơn xin mở phiên họp vắng mặt.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, người tham gia tố tụng và về vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Xác định việc thụ lý, thu thập chứng cứ và các thủ tục tố tụng tại phiên họp của Thẩm phán và Thư ký là đúng quy định của pháp luật, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Về nội dung việc yêu cầu: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của bà Lê Thị D và chị Lê Thanh N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
Chị Lê Thanh N, sinh ngày 19/11/2000 là con nuôi hợp pháp của bà Lê Thị D, được Ủy ban nhân dân Phường M, quận G, Tp. Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 01/QĐ/UB ngày 17/01/2001 và cấp giấy khai sinh số 32 ngày 17/01/2001.
Các đương sự yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi vì hiện nay con nuôi đã trưởng thành. Xét yêu cầu này của đương sự là tự nguyện, không trái với pháp luật, phù hợp với nguyện vọng của con nuôi nên được chấp nhận.
Về lệ phí: bà Lê Thị D và chị Lê Thanh N phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 78 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 1 Điều 25, Điều 27 Luật nuôi con nuôi năm 2010; Căn cứ khoản 5 Điều 29, Điều 35, Điều 39, Điều 361, Điều 366, Điều 370, Điều 371 và Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Lê Thị D và Chị Lê Thanh N về việc “yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi”
Về quan hệ gia đình: Chấm dứt quan hệ mẹ nuôi và con nuôi giữa bà Lê Thị D đối với chị Lê Thanh N, sinh ngày 19/11/2000.
Quyền, nghĩa vụ giữa mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày Quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: bà Lê Thị D và Chị Lê Thanh N phải chịu lệ phí là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) khấu trừ vào số tiền bà D và chị N đã đóng theo biên lai thu số AA/2021/0047755 ngày 01/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh. Các đương sự đã nộp đủ lệ phí.
- Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà D có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Chị N có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định được tống đạt hoặc niêm yết niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND Q. G; - Chi cục THADS Q. G - UBND Phường M, Q. G; - Lưu hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lê Kiều Oanh |