- Tranh chấp gì? "Công ty D kiện UBND BRVT"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty cổ phần thương mại và đại lý D tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật tố tụng hành chính; Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 144 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 733/2019/QĐ-PT | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 16 tháng 10 năm 2019. |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hội đồng xét phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Lê Thành Văn
- Các Thẩm phán:
Ông Đặng Quốc Khởi
Bà Trần Thị Thu Thủy
- Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Hồ Diệu Thúy – Cán bộ thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Đỗ Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 13/2019/QĐST-HC ngày 20 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa
- Vũng Tàu, căn cứ điểm a khoản 2 Điều 116; điểm g khoản 1 Điều 143; Điều 144 của Luật tố tụng hành chính; Điều 3 Nghị quyết số 56/2010/QH12 của Quốc Hội để đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc khởi kiện quyết định thu hồi đất giữa:
1/ Người khởi kiện: Công ty cổ phần Thương mại và đại lý D.
Địa chỉ: đường 30/4, Phường 12, thành phố V, tỉnh Bà Rịa- VũngTàu.
2/ Người bị kiện: Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Địa chỉ: đường Ph, phường Ph1, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
3/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chủ Doanh nghiệp tư nhân Nhà máy sản xuất nước đá Q.
Địa chỉ: đường N, Phường 3, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Lý do của việc đình chỉ: Ngày 15 tháng 11 năm 2004 Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ban hành Quyết định số 9578/QĐ-UB về việc thu hồi lô đất có diện tích 18.046m2 tọa lạc tại đường 30/4, phường 12, thành phố V của Công ty cổ phần thương mại và đại lý D, giao cho công ty quản lý khai thác quỹ đất để quản lý, chờ Ủy ban nhân dân tỉnh điều phối sử dụng vào mục đích khác. Ngày 19/01/2009 Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có Quyết định số 133/QĐ – UBND về việc thu hồi 18.039,7m2 tại đường 30/4, phường 12, thành phố V do Trung tâm phát triển quỹ đất đang quản lý và cho Doanh nghiệp tư nhân nhà máy sản xuất nước đá Q thuê diện tích đất trên.
Ngày 22/02/2019 Công ty cổ phần thương mại và đại lý D tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu mới làm đơn khởi kiện là đã hết thời hiệu khởi kiện.
Theo đơn kháng cáo ngày30/5/2019 Công ty cổ phần thương mại và đại lý D tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cho rằng khi nhận quyết định thu hồi đất năm 2004 Công ty đã khiếu nại, thời gian giải quyết khiếu nại kéo dài là do hai bên (Công ty và Ủy ban nhân dân tỉnh) chưa thể thống nhất được quan điểm giải quyết. Đến năm 2018 Công ty thấy rằng nếu tiếp tục giải quyết theo thủ tục khiếu nại sẽ kéo dài nên mới khởi kiện ra Tòa.
XÉT THẤY:
Xét về thời hạn kháng cáo: Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính ngày 20/5/2019, cũng trong ngày 20/5/2019 Công ty cổ phần thương mại và đại lý D tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nhận được quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Ngày 30/5/2019 Công ty cổ phần thương mại và đại lý D tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu làm đơn kháng cáo và nộp tạm ứng án phí theo quy định.
Các đương sự khác trong vụ án không có kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu không có kháng nghị đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.
Về nội dung vụ án: Tại đơn khởi kiện ngày 06/3/2019 Công ty cổ phần thương mại và đại lý D tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (bl số 10 đến 12) yêu cầu hủy Quyết định số 9578/QĐ – UB ngày 15/11/2004 và Quyết định số 133/QĐ – UBND ngày 19/01/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thu hồi 18.039,7m2 cho đơn vị khác thuê là không đúng.
Xét thấy: Ngày 15/1/2004 Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ban hành Quyết định số 9578/QĐ – UBvề việc thu hồi lô đất có diện tích 18.064m2 tọa lạc tại đường 30/4, phường 12, thành phố V do Công ty thương mại và đại lý D quản lý và giao toàn bộ diện tích đất trên cho Công ty quản lý khai thác quản lý quỹ đất quản lý, chờ Ủy ban nhân dân tỉnh điều phối sử dụng vào mục đích khác.
Ngày 19/01/2009 Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ban hành Quyết định số 133/QĐ – UBND về việc thu hồi 18.039,7m2 tại đường 30/4, phường 12, thành phố V do Trung tâm phát triển quỹ đất đang quản lý, cho doanh nghiệp tư nhân nhà máy sản xuất nước đá Q thuê toàn bộ diện tích đất trên.
Công ty thương mại và đại lý D tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nhận được các quyết định trên và có nhiều văn bản gửi cơ quan chức năng tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu khiếu nại, không đồng ý với các Quyết định trên, chứng tỏ Công ty biết diện tích đất mình đang quản lý đã bị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giao cho đơn vị khác quản lý. Cơ quan chức năng tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không có quyết định giải quyết khiếu nại của công ty, nhưng công ty không thực hiện việc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa theo quy định của Luật tố tụng hành chính (thời hạn khởi kiện là 01 năm kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được Quyết định hành chính, hành vi hành chính), đến ngày 06/3/2019 Công ty cổ phần thương mại và đại lý D tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu mới khởi kiện là đã hết thời hiệu khởi kiện, Tòa sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án vì đã hết thời hiệu khởi kiện là có căn cứ.
Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao cũng đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Công ty cổ phần thương mại và đại lý D tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, giữ y Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.
Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên Công ty cổ phần thương mại và đại lý D tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 243 của Luật tố tụng hành chính,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty cổ phần thương mại và đại lý D tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Giữ y Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 13/2019/QĐST-HC ngày 20 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
2. Về án phí: Công ty cổ phần thương mại và đại lý D tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàuphải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm. Chuyển số tiền tạm ứng án phí (theo biên lai thu số 0007221 ngày 04/6/2019 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) thành án phí phúc thẩm.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: Tòa án nhân dân tối cao; VKSNDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh; TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; VKSND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Cục THADS tỉnh tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Các đương sự; Lưu: hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lê Thành Văn |