- Tranh chấp gì? "Lê Thúy Hòa"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thúy H. Giữ nguyên quyết định
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 143 Luật Tố tụng hành chính; Điều 144 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 731/2023/QĐ-PT | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 23 tháng 8 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Vương Minh Tâm
Các Thẩm phán:
Ông Ngô Mạnh Cường
Bà Đinh Ngọc Thu Hương
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên họp: Ông Vũ Thanh Sơn, Kiểm sát viên.
Tại quyết định số 269/2023/QĐST-HC ngày 10/3/2023, Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ Điều 38; Điều 116; Điều 143; Điều 144, Điều 206, Điều 213 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015, đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính” giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Bà Lê Thúy H; Địa chỉ: 2 N, Phường B, quận B, Thành phố
Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Nguyễn Hồng N- Văn
phòng L thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.
Người bị kiện:
1. Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh;
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh;
Cùng địa chỉ: F P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch và Ủy ban nhân dân quận B: Ông
Hồ P chức vụ: Phó chủ tịch (Giấy ủy quyền số 79/GUQ- UBND ngày 24/8/2022)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận
B:
1. Bà Vũ Thị Hội D, Phó Trưởng Phòng Quản lý Đô thị quận B.
2. Bà Trần Thị Thùy D1, chuyên viên Phòng Quản lý Đô thị quận B.
3. Ông Nguyễn Xuân V, Cán sự Phòng Quản lý Đô thị quận B.
4. Ông Đỗ Khánh D2, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B, quận B.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn H1; Địa chỉ: 2 N,
Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thúy H (Giấy ủy quyền số công chứng
008512 ngày 05/9/2022 tại Văn phòng C.
Lý do đình chỉ mà Tòa án cấp sơ thẩm nêu ra, như sau: Thời hiệu khởi kiện đã
hết theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính.
Tại đơn kháng cáo ghi ngày 06/4/2023, người khởi kiện bà Lê Thúy H yêu
cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết như sau: Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 269/2023/QĐST-HC ngày 10/3/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án.
XÉT THẤY:
Tại đơn khởi kiện ngày 06/7/2022, bà Lê Thúy H yêu cầy hủy các quyết
định của Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh như sau: hủy Quyết định số 4586/QĐ-KPHQ ngày 06/7/2020 và Quyết định số 7751/QĐ-CCXP ngày 09/12/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận B. Công nhận cho tồn tại công trình và thực hiện việc hợp thức hóa phần xây dựng theo quy định của pháp luật
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã thu thập tài liệu, chứng cứ để
giải quyết vụ án. Các tài liệu, chứng cứ này (đơn khởi kiện ngày 06/4/2022, ngày 06/7/2022; biên bản lấy lời khai ngày 07/3/2023 và những tài liệu, chứng cứ khác) thể hiện sự việc diễn ra như sau:
- Ngày 06/7/2020 UBND quận B ban hành quyết định số 4586/QĐ-KPHQ về
việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với bà Lê Thúy H do đã có hành vi vi phạm hành chính.
Tại biên bản tiếp xúc ngày 25/11/2020 của Phòng Q với bà Lê Thúy H việc
thực hiện Quyết định hành chính số 4586/QĐ-KPHQ có bà H trực tiếp ký tên thể hiện việc bà H đã biết Quyết định 4586/QĐ-UBND nhưng bà H không có khiếu nại đối với quyết định này.
- Ngày 09/12/2020 Chủ tịch UBND quận B ban hành Quyết định số
7751/QĐ-CCXP về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả để thi hành Quyết định số 4586/QĐ-KPHQ ngày 06/7/2020 của UBND quận B.
Sau khi nhận được quyết định 4586/QĐ-KPHQ ngày 06/7/2020 và Quyết
định 7751/QĐ-CCXP ngày 09/12/2020 bà H không khiếu nại đối với 02 quyết định trên. Đến ngày 09/12/2020 và ngày 01/3/2021 bà H có đơn cứu xét đề nghị cho tồn tại phần diện tích, cấu trúc công trình vi phạm hành chính.
Tại biên bản làm việc ngày 07/3/2023 bà Lê Thúy H xác định bà đã nhận
được 02 quyết định nêu trên vào tháng 12/2020 nhưng bà không có khiếu nại đối với 02 Quyết định nêu trên.
Theo quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật tố tụng Hành
chính năm 2015 quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính, như sau:
“1/Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà cơ quan, tổ chức, cá nhân được quyền
khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án hành chính bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.
2/Thời hiệu khởi kiện đối với từng trường hợp được quy định như sau:
a)01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành
vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc”.
Như vậy, có căn cứ xác định bà Lê Thúy H nhận được 02 quyết định nêu trên
vào tháng 12 năm 2020, nhưng đến ngày 20/4/2022 bà H mới làm đơn khởi kiện yêu cầu hủy 02 quyết định nêu trên là quá thời hiệu khởi kiện 01 năm theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
Xét thấy, việc Tòa án cấp sơ thẩm ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
hành chính với do hết thời hiệu khởi kiện, là có căn cứ phù hợp với quy định tại điểm g khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính.
Bà Lê Thúy H kháng cáo quyết định đình chỉ nhưng không có tình tiết, chứng
cứ gì mới; Tòa án cấp phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thúy H.
Tại phiên họp phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành
phố Hồ Chí Minh đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thúy H, giữ nguyên quyết định sơ thẩm, phù hợp với nhận định của Hội đồng phúc thẩm nên được chấp nhận.
Bà Lê Thúy H phải nộp 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm.
Căn cứ Điều 243 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thúy H. Giữ nguyên quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 269/2023/QĐST-HC ngày 10/3/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Về án phí phúc thẩm: Bà Lê Thúy H phải chịu 300.000 đồng nhưng được
trừ vào số tiền đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0004672 ngày 10/5/2023 của Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; bà Lê Thúy H đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: -TAND tối cao; -VKSNDCC tại TP.HCM; -TAND Tp Hồ Chí Minh; -Cục THADS Tp Hồ Chí Minh; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Vương Minh Tâm |