- Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn N"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn N (có lý lịch như trên).
- Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 73/QĐ-TA | Thốt Nốt, ngày 30 tháng 7 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Với thành phần tiến hành phiên họp:
1/ Thẩm"phán: Ông Nguyễn Thanh Điền
2/ Thư"ký"phiên"họp: Bà Nguyễn Thị Nhàn
Ngày 30 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 75/QĐ-TA ngày 19 tháng 7 năm 2019, đối với:
Họ và tên: Nguyễn Văn N
sinh năm 1989
Giới tính: nam
Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: không biết chữ.
Nguyên quán: khu vực P, phường H, quận T, thành phố Cần Thơ.
Đăng ký thường trú: khu vực P, phường H, quận T, thành phố Cần Thơ.
Chỗ ở hiện nay: khu vực P, phường H, quận T, thành phố Cần Thơ.
Nghề nghiệp: không.
Tiền án: Ngày 16.4.2014 bị Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” - đã chấp hành xong; Ngày 21.9.2016 bị Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” - đã chấp hành xong.
Tiền sự: Không.
Con ông Nguyễn Văn K (1942) và bà Đinh Thị L (1952).
(có"mặt"tại"phiên"họp)"
Có sự tham gia của:
1. Đại"diện"cơ"quan"đề"nghị"(Phòng"Lao"động"thương"binh"và"xã"hội"quận" Thốt"Nốt): Ông Lê Hoài Nguyễn - Phó trưởng phòng
"
(có"mặt)"
2." Đại" diện" Viện" kiểm" sát" nhân" dân" quận" Thốt" Nốt: Ông Võ Long Hải - Kiểm sát viên.
(có"mặt)
NHẬN THẤY:"
Nguyễn Văn N là người đang được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã/phường/thị trấn theo Nghị định 111/2013/NĐ-CP ngày 30.9.2013 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số: 28/QĐ-UBND ngày 01.02.2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường H với thời gian 03 tháng - kể từ ngày 01.02.2019 đến ngày 01.5.2019. Trong thời gian được giáo dục tại địa phương, N không nghiêm chỉnh chấp hành, chưa tiến bộ mà còn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Cụ thể: vào ngày 16.4.2019, Công an phường H kết hợp với Trạm y tế test ma túy đối với N bằng thanh thử, kết quả dương tính với ma túy.
Trên cơ sở chứng cứ đã thu thập, thấy có đủ cơ sở nên cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị đưa Nguyễn Văn N đi cai nghiện bắt buộc. Từ đó, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận T ban hành Văn bản số 183/LĐTBXH ngày 10.7.2019 đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N.
Tại"phiên"họp,
Đề" nghị" của" đại" diện" Phòng" Lao" động" -" Thương" binh" và" Xã" hội" quận" T: Trên cơ sở kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đã được Phòng Tư pháp quận T thẩm định về mặt pháp lý, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận T đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy thành phố Cần Thơ (Địa chỉ: số 719, ấp Xẻo Vong C, xã Hiệp Lợi, thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang) đối với Nguyễn Văn N (lý lịch nêu trên) với thời gian là 18 tháng.
Người"bị"đề"nghị"Nguyễn"Văn"N"trình"bày: Bản thân biết hành vi sử dụng ma túy là sai trái. Trước đây bản thân và gia đình chuẩn bị phương pháp cai nghiện nhưng chưa thực hiện được. Nay Tòa án mở phiên hợp để đưa cai nghiện tại Trung tâm cai nghiện thì bản thân đồng ý chấp nhận cai nghiện bắt buộc với thời gian do Tòa án quyết định.
Ý"kiến"của"đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"quận"T:
- Đối với Tòa án: Đã tuân thủ đúng trình tự quy định theo Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
- Đối với việc lập hồ sơ đề nghị: đã đảm bảo tính pháp lý về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật. Vì vậy, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận T đề nghị đưa Nguyễn Văn N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 18 tháng là phù hợp.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được xem xét tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, nhận định:
Về thẩm quyền xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Cơ quan đề nghị là Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận T có trụ sở trên địa bàn quận T, thành phố Cần Thơ nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận T theo quy định tại điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính và điều 3 Pháp lệnh về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân ngày 20-01-2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Kể từ khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính và lập biên bản theo quy định đối với Nguyễn Văn N cho đến khi hồ sơ được chuyển sang Tòa án, các cơ quan chức năng đã thực hiện đúng các trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tại các điều 103, điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính, điều 8-13 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30-12-2013 và các khoản 1-3 điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09-9-2016 của Chính phủ.
Tại biên bản ghi lời khai và bản tường trình, Nguyễn Văn N thừa nhận: sử dụng ma túy đá từ năm 2011, lần gần nhất là ngày 14.4.2019.
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Ngày 14.4.2019, Nguyễn Văn N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an phường H lập biên bản vi phạm hành chính. Trên cơ sở vi phạm và hồ sơ đề nghị, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường H ban hành Quyết định số 28/QĐ-UBND ngày 01.02.2019 về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại phường, thời gian 03 tháng kể từ ngày 01.02.2019 đến ngày 01.5.2019. Trong thời gian áp dụng biện pháp giáo dục tại phường, N vẫn tiếp tục sử dụng ma túy - được tiến hành thử nước tiểu ngày 16.4.2019 với kết quả xét nghiệm “dương tính”. Từ đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường H ban hành Quyết định số: 33/QĐ-UBND ngày 18.4.2019 chấm dứt áp dụng biện pháp giáo dục tại phường.
Như vậy, Nguyễn Văn N là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú rõ ràng, bị chấm dứt thi hành quyết định giáo dục tại phường do nghiện ma túy nên thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và hướng dẫn tại khoản 1 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Nguyễn Văn N được tiến hành xét nghiệm chất ma túy lần cuối vào ngày 16.4.2019 với kết quả “dương tính” (tức là có sử dụng ma túy) nên còn trong thời hiệu để xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính và hướng dẫn tại Điều 9 Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về thi hành một số quy định của pháp luật về xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Xét hồ sơ đề nghị, nhận thấy gồm: Bản tóm tắt lý lịch của người bị đề nghị, Biên bản xét nghiệm chất ma túy vào các ngày 22.01.2019 và 16.4.2019 đã được Trạm y tế phường H xác định kết quả xét nghiệm “dương tính” với ma túy, Biên bản về hành vi sử dụng ma túy trái phép, Bản tường trình của Nguyễn Văn N, Quyết định chấm dứt thi hành quyết định giáo dục tại phường của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường H.
Như vậy, việc lập hồ sơ và trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn N đảm bảo tính pháp lý theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính và hướng dẫn tại Chương 2 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Nghị định số 136 (nêu trên).
Xét thấy: Nguyễn Văn N là người đã thành niên, có đủ khả năng nhận thức về tác hại của ma túy. Trong khi, Nhà nước đang ra sức đấu tranh phòng/chống tội phạm về ma túy và tăng cường giáo dục tại địa phương đối với người nghiện ma túy nhằm đảm bảo trật tự xã hội và sức khỏe cộng đồng. Và N thuộc đối tượng được hưởng chính sách đó, nhưng đang trong thời gian chấp hành biện pháp giáo dục tại phường về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy mà N không tiến bộ, lại tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm. Như vậy, có thể thấy rằng: biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại phường không phát huy hiệu quả, ý thức tự cai nghiện tại cộng đồng đối với N không khả thi. Do đó, cần áp dụng một thời hạn nhất định tại cơ sở cai nghiện để Nguyễn Văn N được chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc tạo điều kiện tốt cho N khi hòa nhập cộng đồng.
Trường hợp người bị đề nghị chấp hành tốt và có hiệu quả tích cực sẽ được giảm thời hạn theo quy định tại điều 112 Luật xử lý vi phạm hành chính và điều 27 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Do đó, đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận T và ý kiến của Kiểm sát viên là có căn cứ.
Vì"các"lẽ"trên,
- Căn cứ vào các Điều 95, 96 và khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính;
- Căn cứ vào các Điều 3, 20 và 31 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn N (có lý lịch như trên).
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định, người bị đề nghị có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận T có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân quận T có quyền kháng nghị đối với quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận T phối hợp với Công an quận T đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - Người bị áp dụng; - Trưởng Công an quận T; - Trưởng phòng LĐTBXH quận T; - Ủy ban nhân dân phường (nơi cư trú); - VKSND quận T; - Cơ sở cai nghiện ma túy TPCT; - Tòa án nhân dân Tp. Cần Thơ; - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán Nguyễn Thanh Điền |