- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Huyên và Nguyễn Văn Sơn"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn S, không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ và chồng.
- Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 73/2023/QĐST-HNGĐ | Mỏ Cày Bắc, ngày 13 tháng 9 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ vào hồ sơ vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 134/2023/TLST – HNGĐ, ngày 29/5/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con và chia tài sản khi ly hôn” giữa:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1976;
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh B.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1969;
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh B.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Sơn:
Ông Lê Minh T, sinh năm 1995. Địa chỉ liên hệ: ấp B, xã B, thành phố B, tỉnh B.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện M.
Địa chỉ trụ sở: Địa chỉ: khu phố P, thị trấn P, huyện M, tỉnh B.
Bà Trần Thị N, sinh năm 1972;
Địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện M, tỉnh B.
Bà Lê Thị Thu C, sinh năm 1959.
Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện M, tỉnh B.
Căn cứ vào Điều 212, Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 55, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 05 tháng 9 năm 2023,
XÉT THẤY:
Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 05 tháng 9 năm 2023 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn (07) bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn S, không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ và chồng.
2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
Về con chung: Nguyễn Thùy D, sinh ngày 05/9/1997 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; bà Nguyễn Thị H được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Hoàng D, sinh ngày 06/02/2012 (phù hợp với nguyện vọng của cháu D tại biên bản lấy ý kiến con chưa thành niên đề ngày 18/8/2023), hiện cháu D đang sống với bà H, ông Nguyễn Văn S không phải cấp dưỡng nuôi con do bà H không có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về chia tài sản khi ly hôn: Bà Nguyễn Thị Hvà ông Nguyễn Văn Sthống nhất tài sản chung gồm có: nhà, đất và 02 xe ô tô, tài sản chung để vợ chồng tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét; nợ chung: nợ Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện M số tiền 600.000.000 đồng, nợ bà Trần Thị N số tiền 540.000.000 đồng, nợ bà Lê Thị Thu C số tiền 470.000.000 đồng, các đương sự thống nhất tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập) nên không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H tự nguyện chịu toàn bộ số tiền án phí ly hôn số tiền 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào tạm ứng án phí đã nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005186 ngày 29/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh B. Bà H được nhận lại số tiền 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng).
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
4. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre; - VKSND huyện Mỏ Cày Bắc; - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Bắc; - UBND xã V, huyện C, tỉnh B (Đăng ký kết hôn số 08, quyển số 01, ngày 11/9/1995); - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, VP. | THẨM PHÁN Nguyễn Thị Hoài Nhớ |