vanban.org

Quyết định 73/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 08/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Lưu Quý L phạm tội “mua bán trái phép chất ma tuý”; bị cáo Lê Trần N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về điều luật áp dụng: Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lưu Quý L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam ngày 02/02/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "mua bán tràng trữ ma tuý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Lưu Quý L phạm tội “mua bán trái phép chất ma tuý”; bị cáo Lê Trần N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2023/HS-ST
Ngày: 08 - 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Lộc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Đức Bản

Bà Đặng Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hải Nam - Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 8 năm 2023 tại Hội trường của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2023/TLST - HS ngày 27 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2023/QĐXXST - HS ngày 14 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

1. Lưu Quý L; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 10/10/1984 tại tỉnh Quảng Bình; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố , phường B, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Lưu Quý L; Sinh năm: 1954; Con bà: Nguyễn Thị V; Sinh năm: 1954; Ông, bà đều hưu trí và trú tại: Tổ dân phố 1, phường Bắc Lý, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình; Anh chị em ruột: Có 02 người, Lương là con đầu; Vợ: Phan Thị Thùy A; Sinh năm 1991; Nghề nghiệp: Lao động tự do (đã ly hôn); Trú tại: Phường Bắc Nghĩa, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình; Con: Có 01 người con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Sinh ra lớn lên được bố mẹ nuôi ăn học đến lớp 12/12. Từ năm 2004 đến năm 2006 học Trường trung cấp kinh tế Quảng Bình. Ngày 11/12/2002, bị Công an phường Nam Lý xử phạt 200.000 đồng về hành vi “Trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác”. Ngày 05/8/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thi hành án tại Trại giam Quảng Bình đến ngày 31/12/2011 ra trại về tại địa phương cho đến ngày phạm tội. Đã thi hành xong các khoản tiền phạt, án phí.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/02/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đồng Hới. Có mặt.

2. Lê Trần N; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 21/7/1987 tại tỉnh Quảng Bình; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố, phường N, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Thanh N (đã chết); Con bà: Trần Thị Th; Sinh năm: 1957; Nghề nghiệp: Hưu trí; Trú tại: Tổ dân phố 14, phường Nam Lý, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình; Anh chị em ruột: Có 04 người, Nam là con thứ tư; Vợ: Lê Bích Ph; Sinh năm 1990 (đã ly hôn); Con: Có 01 người con sinh năm 2013; Trú tại: Thị trấn Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Sinh ra lớn lên được bố mẹ nuôi ăn học đến lớp 12/12 thì nghỉ học ở nhà. Ngày 23/10/2002 bị Công an phường Nam Lý xử phạt hành chính 100.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 15/9/2009 bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới xử phạt 06 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 28/12/2009, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xử phúc thẩm tuyên phạt 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thi hành án tại trại giam tỉnh Quảng Bình đến 18/01/2012 ra trại. Ngày 11/9/2012, bị Công an thành phố Đồng Hới xử phạt 750.000 đồng về hành vi Gây rối trật tự công cộng. Ngày 31/3/2014 bị Công an thành phố Đồng Hới xử phạt 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 21/4/2015 bị Công an thành phố Đồng Hới xử phạt 750.000 đồng về hành vi Gây rối trật tự công cộng. Ngày 06/11/2017 bị Công an thành phố Đồng Hới xử phạt 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Đã thi hành xong bản án, các quyết định trên.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/02/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đồng Hới. Có mặt.

Người chứng kiến:

Ông Nguyễn Quốc Tr, sinh năm 1974; Địa chỉ: TDP, phường Nam Lý, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 02/02/2023, tại phòng trọ số 04 dãy nhà trọ của Lê Trần N thuộc tổ dân phố 14, phường Nam Lý, thành phố Đồng Hới. Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an tỉnh Quảng Bình phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố Đồng Hới phát hiện, bắt quả tang Lê Trần N có hành vi cất giấu trên tấm đệm 01 túi nilon bên trong chứa 84 viên nén hình tròn, màu hồng và 01 túi nilon bên trong chứa chất màu trắng. N khai nhận 02 túi nilon trên là ma túy loại Methamphetamine và Heroinne mục đích để sử dụng.

Nguồn gốc số ma túy trên N khai nhận: Khoảng 19 giờ ngày 01/02/2023, Nam đi bộ đến dãy trọ ở số 10 đường Phan Đình Phùng thuộc tổ dân phố 3, phường Bắc Lý. Tại phòng trọ số 05 Nam gặp Lưu Quý L hỏi mua ma túy loại hồng phiến và ma túy loại Heroine để sử dụng với giá 4.000.000 đồng. L đồng ý và bán cho N 01 túi nilon bên trong chứa khoảng 90 viên ma túy loại hồng phiến và 01 túi nilon bên trong chứa ma túy loại Heroine. N nhận số ma túy trên rồi trở về cất giấu tại phòng trọ và đã sử dụng hết 05 viên ma túy loại hồng phiến và một ít ma túy loại Heroine. Đến khoảng 14 giờ 30 phút ngày 02/02/2023 thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ cùng tang vật.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lưu Quý L tại phòng trọ số 05 thuộc dãy nhà trọ của ông Lưu Quý L là bố của Lương ở số nhà 10 đường Phan Đình Phùng, tổ dân phố 3, phường Bắc Lý, Lương tự nguyện giao nộp cho cơ quan Công an 01 túi nilon bên trong chứa 06 viên nén hình tròn, màu hồng.

Nguồn gốc toàn bộ số ma túy bị thu giữ L khai nhận: Chiều ngày 01/02/2023 tại khu vực ngã ba đường vào cổng Ga Đồng Hới, thuộc phường Nam Lý, L mua của một người đàn ông không rõ lý lịch khoảng 100 viên nén hình tròn màu hồng là ma túy loại hồng phiến và 01 túi nilon bên trong chứa chất màu trắng là ma túy loại Heroine với giá 4.000.000 đồng, mục đích để bán lại kiếm lời. Số ma tuý thu giữ tại nhà L là còn lại sau khi bán cho N.

Quá trình lấy lời khai giữ người trong trường hợp khẩn cấp L khai nhận hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý của mình, lời khai của N và L phù hợp với nhau và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác. Quá trình điều tra Lương thay đổi lời khai, không thừa nhận hành vi phạm tội hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình.

Tại Kết luận giám định số 115/KL-KTHS ngày 09/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: 01 túi nilon bên trong chứa 84 viên nén hình tròn, màu hồng (Mẫu ký hiệu A1) thu giữ từ Lê Trần N gửi giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 7,227g; 01 túi nilon bên trong chứa chất màu trắng (Mẫu ký hiệu A2) thu giữ từ Lê Trần N gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine, khối lượng 2,563g; 01 túi nilon bên trong chứa 06 viên nén hình tròn, màu hồng thu giữ từ Lưu Quý L (Mẫu ký hiệu A3) gửi giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,524g).

Tại Bản cáo trạng số: 71/CT-VKSĐH -MT ngày 27 tháng 6 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới truy tố bị cáo Lưu Quý L về tội “mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo bị cáo Lê Trần N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới phát biểu lời luận tội, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện và giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị HĐXX:

Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Lưu Quý L từ 08 năm đến 8 năm 06 tháng tù.

Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51, 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Trần N từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý; trả lại 02 điện thoại của Lương và của N; tịch thu nộp ngân sách nhà nước 6.300.000 đồng, tich thu tiêu huỷ 01cân tiểu ly của L; bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật; quyền kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đồng Hới, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, về trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

. Tại phiên toà bị cáo Lương và bị cáo Nam đã khai nhận tất cả các hành vi phạm tội mình đúng như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của hai bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của hai bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án, phù hợp về mặt thời gian, địa điểm và quá trình phạm tội thể hiện.

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 02/02/2023, tại phòng trọ số 04 bắt quả tang N có hành vi cất giấu trên tấm đệm 01 túi nilon bên trong chứa 84 viên nén hình tròn, màu hồng và 01 túi nilon bên trong chứa chất màu trắng. N khai nhận 02 túi nilon trên là ma túy loại Methamphetamine và Heroinne mục đích để sử dụng. Nguồn gốc số ma túy trên N khai nhận: Khoảng 19 giờ ngày 01/02/2023, Nam mua của Lương với giá 4.000.000 đồng. L đồng ý và bán cho N 01 túi nilon bên trong chứa khoảng 90 viên ma túy loại hồng phiến và 01 túi nilon bên trong chứa ma túy loại Heroine. N nhận số ma túy trên rồi trở về cất giấu tại phòng trọ và đã sử dụng hết 05 viên ma túy loại hồng phiến và một ít ma túy loại Heroine.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lương tại phòng trọ số 05 thuộc dãy nhà trọ của ông Lưu Quý L là bố của. L tự nguyện giao nộp cho cơ quan Công an 01 túi nilon bên trong chứa 06 viên nén hình tròn, màu hồng.

Nguồn gốc toàn bộ số ma túy bị thu giữ Lương khai nhận: Chiều ngày 01/02/2023 tại khu vực ngã ba đường vào cổng Ga Đồng Hới, thuộc phường Nam Lý, L mua của một người đàn ông không rõ lý lịch khoảng 100 viên nén hình tròn màu hồng là ma túy loại hồng phiến và 01 túi nilon bên trong chứa chất màu trắng là ma túy loại Heroine với giá 4.000.000 đồng, mục đích để bán lại kiếm lời. Số ma tuý thu giữ tại nhà L là còn lại sau khi bán cho Nam.

Tại Kết luận giám định số 115/KL-KTHS ngày 09/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: 01 túi nilon bên trong chứa 84 viên nén hình tròn, màu hồng thu giữ từ Lê Trần N gửi giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 7,227g; 01 túi nilon bên trong chứa chất màu trắng thu giữ từ Lê Trần N gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine, khối lượng 2,563g; 01 túi nilon bên trong chứa 06 viên nén hình tròn, màu hồng thu giữ từ Lưu Quý L gửi giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,524g.

Như vậy, hành vi của bị cáo L đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251, bị cáo Lê Trần N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới đã truy tố.

. Xét tính chất nguy hiểm, mức độ hậu quả của hành vi và nhân thân của bị cáo thấy rằng. Methamphetamine, Heroine là chất ma túy thuộc loại độc dược gây nghiện, làm cho người sử dụng bị kích thích hoặc ức chế thần kinh gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng. Vì vậy Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ, sử dụng... trái phép chất ma túy. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo không những xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn gây nguy hại cho bản thân và xã hội là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo L , bị cáo Nam được gia đình nuôi dưỡng cho đi học có trình độ hiểu biết nhất định nhưng vì ăn chơi đua đòi, sống buông thả, thiếu ý thức tu dưỡng rèn luyện về đạo đức lối sống, coi thường pháp luật. Mặc dù nhận thức được Methamphetamine, Heroine là loại ma tuý nguy hiểm, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng để thoả mãn nhu cầu của cá nhân, bị cáo vẫn mua bán, tàng trữ trái phép để sử dụng. Hơn nữa hai bị cáo đã nhiều lần vi phạm pháp luật hình sự, mạc dù đã xoá án tích, nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy, hành vi của hai bị cáo phải được xử lý nghiêm trước pháp luật, cần áp dụng mức án, tương xứng với hành vi và mức độ phạm tội mà hai bị cáo đã gây ra để có tác dụng răng đe giáo dục phòng ngừa chung.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Hai bị cáo không có.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Đối với bị cáo L quá trình điều tra L không thật thà khai báo, tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, mẹ bị chất độc hoá học trong kháng chiến, 45 năm tuổi Đảng, bố thương binh 4/4; quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Đối với bị cáo N quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác cơ quan điều tra phát hiện tội phạm, bị cáo lao động chính trong gia đình, có bác liệt sỹ, ông nội người có công với cách mạng, mẹ được Công đoàn Việt Nam tặng giấy khen, quy định tại điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về vật chứng:

- Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Đồng Hới đã thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A23, màu cam, đã qua sử dụng của N; Thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY NOTE 9 màu xanh đã qua sử dụng của L. Đây không phải công cụ phương tiện phạm tội trả lại cho N và L.

Số 6.300.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xác định là tiền L bán ma túy nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước của Lưu Quý L. Đây công cụ phương tiện phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- Thu giữ của Lê Trần N 01 túi nilon bên trong chứa 84 viên nén hình tròn, màu hồng (ký hiệu A1) khối lượng 7,227g, hoàn trả sau giám định 6,946 g và 01 túi nilon bên trong chứa chất màu trắng (ký hiệu A2) khối lượng 2,563g, hoàn trả sau giám định 2,428g. Thu giữ Lưu Quý L: 01 túi nilon bên trong chứa 06 viên nén hình tròng màu hồng (ký hiệu A3) khối lượng 0,524g, hoàn trả sau giám định 0,418g và toàn bộ vỏ bao gói. 01 cân tiểu ly, màu đen, hiệu CHQ của Lưu Quý Lư. Đây công cụ phương tiện phạm tội cần tịch thu tiêu huỷ.

. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc bị cáo Lương, Nam mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Lưu Quý L phạm tội “mua bán trái phép chất ma tuý”; bị cáo Lê Trần N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về điều luật áp dụng: Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lưu Quý L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam ngày 02/02/2023.

2. Về điều luật áp dụng: Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51, 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Trần N 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam ngày 02/02/2023.

4. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu huỷ 01 bì niêm phong có ghi chữ “115/KL-KTHS ” của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Bình hoàn trả sau giám định bên trong chứa. 6,946g Methamphetamine, mẫu ký hiệu A1; 2,428g Heroine, mẫu ký hiệu A2; 0,418g Methamphetamine, mẫu ký hiệu A3; toà bộ võ bao gói. (theo kết luận giám định số 115/KL-KTHS ngày 09/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Bình); 01 cân tiểu ly, màu đen, hiệu CHQ.

- Trả lại cho Lê Trần N 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A23, màu cam, số IME11: 354650132549829, số IMEI2: 355740242549824, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, tình trạng hết pin.

- Trả lại cho Lưu Quý L 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY NOTE 9 màu xanh, số IME11: 359447098376460, số IMEEI2: 35944098376468, màn hình mặt trước bị nứt vỡ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, tình trạng hết pin.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 6.300.000 đồng tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam của Lưu Quý L, theo biên lai thu tiền số 0001593, ngày 28/7/2023.

Vật chứng trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/7/2023.

5. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Xử buộc bị cáo Lưu Quý L và bị cáo Lê Trần N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 08/8/2023.

Cỡ chữ