vanban.org

Quyết định 73/2022/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 26/08/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Vũ Văn B.

Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị H, anh B giao con chung Vũ Thị Tuyết A, sinh ngày 25/01/2009 cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên, anh B không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh B được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H - Vũ Văn B"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Vũ Văn B.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_____________
Số: 73/2022/QĐST-HNGĐ
Hải Dương, ngày 26 tháng 8 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận về nuôi con.

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thị Huyền - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 229/2022/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2022, về việc: “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận về nuôi con”, theo quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 249/2022/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

* Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

1. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1987.

ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn M, xã H, huyện M, tỉnh Hải Dương.

2. Anh Vũ Văn B, sinh năm 1983.

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn M, xã C, huyện M, tỉnh Hải Dương.

Nơi cư trú hiện nay: Đài Loan (Trung Quốc).

Người được anh B ủy quyền về việc giao, nhận văn bản tố tụng của Tòa án: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1987.

ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn M, xã H, huyện M, tỉnh Hải Dương.

(Chị H, anh B vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn; Bản tự khai; Giấy ủy quyền; Đơn đề nghị giải quyết vắng mặt của chị Nguyễn Thị H và anh Vũ Văn B cùng các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Vũ Văn B được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh Hải Dương vào ngày 11/4/2008. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2013 thì anh B đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, thời gian đầu anh có liên lạc về cho chị nhưng do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, anh chị có thời gian dài sống ly thân nên không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị H, anh B đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và cùng thống nhất đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.

Về con chung: Chị H, anh B xác định vợ chồng có 01 con chung là Vũ Thị Tuyết A, sinh ngày 25/01/2009, hiện con đang ở với chị H. Anh, chị thống nhất giao con chung cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên, chị H tự nguyện không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị H, anh B xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự và chi phí tố tụng: Chị H tự nguyện chịu toàn bộ chi phí giám định tài liệu, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Đối với lệ phí giải quyết việc dân sự, chị H tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

Anh Vũ Văn B hiện đang sinh sống tại Đài Loan nên anh ủy quyền cho chị Nguyễn Thị H thay anh giao, nhận các tài liệu tại Tòa án. Chị H nhất trí nhận sự ủy quyền của anh B. Sau khi nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, chị đã thông báo cho anh B biết, anh B vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.

Do điều kiện, công việc chị Nguyễn Thị H và anh Vũ Văn B không thể trực tiếp tham gia tố tụng tại Tòa án được nên anh, chị đều có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Cháu Vũ Thị Tuyết A có quan điểm xin được ở với mẹ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương có quan điểm về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ việc: Căn cứ Điều 55, Điều 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Tòa án công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Vũ Văn B. Giao con chung Vũ Thị Tuyết A cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên (tròn 18 tuổi), chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, quan điểm của các đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:

. Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị H và anh Vũ Văn B có đơn đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Anh B hiện đang cư trú tại Đài Loan. Do vậy, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương theo quy định tại khoản 3 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đơn xin ly hôn, bản tự khai, đơn xin vắng mặt và giấy ủy quyền của anh B gửi về Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chứng thực. Tòa án đã trưng cầu giám định dấu vân tay của anh B đối với các tài liệu này. Kết quả giám định cho thấy, dấu vân tay của anh B trong các tài liệu trên so với dấu vân tay in trong giấy chứng minh nhân dân của anh B là của cùng một người. Do vậy, có đủ cơ sở khẳng định nội dung trong các văn bản mà anh B gửi về đúng là ý chí, nguyện vọng xin ly hôn của anh B.

Chị H và anh B đều có quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt các đương sự.

. Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Vũ Văn B được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh Hải Dương vào ngày 11/4/2008, do vậy hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2013 thì anh B đi lao động tại Đài Loan, từ đó đến nay anh B chưa về nước, vợ chồng chủ yếu sống xa nhau nên không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống. Thực tế anh, chị đã sống ly thân từ lâu, không ai quan tâm đến ai. Nay anh B, chị H đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và cùng thống nhất đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương công nhận thuận tình ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H và anh B.

Về con chung: Chị H và anh B có 01 con chung là Vũ Thị Tuyết A, sinh ngày 25/01/2009. Ly hôn anh, chị thỏa thuận giao con Vũ Thị Tuyết A cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên, chị H tự nguyện không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Con chung Vũ Thị Tuyết A cũng có nguyện vọng được ở với chị H. Xét thấy, thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với thực tế, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị H, anh B không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của chị H tự nguyện chịu cả lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, Điều 149, Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Vũ Văn B.

2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị H, anh B giao con chung Vũ Thị Tuyết A, sinh ngày 25/01/2009 cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên, anh B không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Anh B được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

3. Về lệ phí: Chị Nguyễn Thị H tự nguyện chịu cả 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ theo B lai thu số AA/2021/0001143 ngày 28/7/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị H đã nộp đủ lệ phí.

4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Cỡ chữ