vanban.org

Quyết định 727/2021/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Công nhận sự thuận tình ly hôn, giữa:

Bà Nguyễn Ngọc Trúc Chi, sinh năm 1983 Địa chỉ: 109B Calmette, Phường Nguyễn Thái Bình, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 1/ Công nhận sự thuận tình ly hôn, giữa:
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THẠNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ơ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 727/2021/QĐST-HNGĐBình Thạnh, ngày 14 tháng 6 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Căn cứ hồ sơ hôn nhân và gia đình thụ lý số 2056/2020/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2020, về việc “Ly hôn”, giữa:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc Trúc Chi, sinh năm 1983

Địa chỉ: 109B Calmette, Phường Nguyễn Thái Bình, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Nguyễn Công Hải, sinh năm 1983

Địa chỉ: 45/25/9 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ Điều 212, Điều 213, Điều 397 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 55, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 04 tháng 6 năm 2021.

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 43, quyển số 01, ngày 06/4/2010 của Ủy ban nhân dân Phường 11, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 04 tháng 6 năm 2021 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Công nhận sự thuận tình ly hôn, giữa:

Bà Nguyễn Ngọc Trúc Chi, sinh năm 1983

Địa chỉ: 109B Calmette, Phường Nguyễn Thái Bình, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Nguyễn Công Hải, sinh năm 1983

Địa chỉ: 45/25/9 Nguyễn Văn Đậu, Phường 6, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Giấy chứng nhận kết hôn số 43, quyển số 01 ngày 06/4/2010 của Ủy ban nhân dân Phường Nguyễn Thái Bình, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh hết hiệu lực pháp luật kể từ ngày ký quyết định này.

2/ Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Về quan hệ vợ chồng: Bà Nguyễn Ngọc Trúc Chi và ông Nguyễn Công Hải

thuận tình ly hôn.

Về con chung: Có 01 con chung Nguyễn Ngọc Anh Thư, sinh ngày

27/10/2011. Giao con chung cho bà Chi được trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Chi không yêu cầu ông Hải cấp dưỡng nuôi con. Ông Hải được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì quyền lợi của con chung khi cần thiết, hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu T a án giải quyết nợ chung: hông có, không yêu cầu T a án giải quyết.

3/ Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 150.000 đồng, bà Nguyễn

Ngọc Trúc Chi tự nguyện chịu, nhưng được trừ vào số tiền 51.000.000 (Năm mươi mốt triệu) đồng đã nộp theo biên lai số 0088858 ngày 10/12/2020 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh. Bà Chi được hoàn trả 50.850.000 (Năm mươi triệu tám trăm năm mươi nghìn) đồng.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4/ Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không

bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ