- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Hưởng - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2021/HSST Ngày: 28/9/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Kiến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Viết Côi và ông Nguyễn Hạ Tuấn
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Diệu Tuyết – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cúc - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 45/2021/HSST ngày 20/6/2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2021/QĐXXST-HS ngày 08/7/2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2021/HSST-QĐ ngày 21/7/2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2021/HSST-QĐ ngày 19/8/2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2021/HSST-QĐ ngày 21/9/2021, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H - sinh năm 1967; nơi sinh, nơi ĐKHKTT và nơi ở: thôn Đống Long, xã Hòa Lâm, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 5/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Mộc và bà Tạ Thị Lương (đều đã chết); có vợ Hoàng Thị Mùa – sinh năm 1967 và 03 con (lớn nhất SN 1989, nhỏ nhất SN 1997); tiền án, tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại:
Tạ Quang Trung – sinh năm 1967 (Có mặt)
Trú tại: thôn Đống Long, xã Hòa Lâm, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Lưu Thị Năm – sinh năm 1972 (Có mặt)
- Hoàng Thị Mùa – sinh năm1967 (Có mặt)
Đều trú tại: thôn Đống Long, xã Hòa Lâm, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội
* Người làm chứng:
- Nguyễn Duy Bình – sinh năm 1983 (Vắng mặt)
Trú tại: xóm 8, xã Phù Lưu, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội
- Trần Công Vương – sinh năm 1983 (Vắng mặt)
Trú tại: thôn Cầu Bầu, xã Quảng Phú Cầu, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội
- Lưu Thị Năm – sinh năm 1972 (Có mặt)
- Tạ Văn Qúy – sinh năm 1993 (Vắng mặt)
Đều trú tại: thôn Đống Long, xã Hòa Lâm, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15h30’ ngày 11/12/2020, Nguyễn Văn H đi xe máy từ nhà ra khu vực chăn nuôi vịt của gia đình mình ở gần sân bóng thôn Đống Long thì dựng xe ở sân bóng rồi đi xuống cống lấy các bao tải đất chặn, đắp bớt cống không cho nước chảy để giữ nước cho vịt bơi. Trong lúc H đang đắp thì Tạ Quang Trung ở cùng thôn đi đến nói: “Em đang tháo nước để thu hồ sao anh lại đắp cống lại?”, H nói “Tôi chỉ lấp một ít, bớt lại ít nước cho vịt, không ảnh H gì đến chú!”. Sau đó, giữa Trung và H chửi nhau, xô sát, giằng co, đấm đá nhau. Quá trình xô sát, Trung cầm 01 viên đá ở tay phải đập 01 phát trúng vào trán bên trái của H làm chảy máu; H chạy về phía xe máy của mình cách đó khoảng 15m lấy một con dao dựa chạy về phía Trung rồi cầm dao ở tay phải vung chém nhiều nhát về phía Trung, Trung giơ tay trái lên đỡ thì bị trúng 02 nhát vào tay, Trung chạy giật lùi thị bị vấp ngã xuống đường, H tiếp tục chém, Trung giơ chân lên đỡ thì bị trúng 01 nhát vào chân trái. Lúc này, có anh Tạ Văn Quý là người cùng thôn và bà Lưu Thị Năm (là vợ Trung) chạy đến, thấy chồng bị thương thì bà Năm lấy khăn băng bó vết thương. Lúc này, H đứng cách Trung khoảng 05m, hai bên tiếp tục cãi chửi nhau, rồi H đi ra đống đá ở gần đó nhặt 02 viên đá cầm ở hai tay ném về phía Trung nhưng không trúng. Thấy vậy, anh Quý chạy đến ôm H vật ngã ra đường rồi bảo H đi về, song anh Quý cùng với bà Năm gọi người đưa ông Trung đi sơ cứu tại Bệnh viện Vân Đình rồi chuyển đến Bệnh viện Quân Y 103 điều trị. Hậu quả:
- Nguyễn Văn H bị thương rách da vùng trán trái kích thước (03 x 02)cm, khâu vết thương tại Phòng khám đa khoa khu vực Đồng Tân, sau điều trị tại Bệnh viện đa khoa Vân Đình từ ngày 11/12/2020 đến ngày 15/12/2020 ra viện.
- Tạ Quang Trung bị thương: bàn tay trái rũ cổ cò, 2 vết thương cẳng tay trái kích thước (08 x 1,5)cm và (10 x 1,5)cm; cẳng chân trái có vết thương kích thước (08 x 01)cm, cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Vân Đình, sau chuyển điều trị tại Bệnh viện Quân Y 103 từ ngày 11/12/2020 đến ngày 15/12/2020 ra viện.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) con dao (loại dao dựa) bằng kim loại, màu đen, một lưỡi sắc, đầu bằng. Phần lưỡi dài 24,5cm, bản rộng 7,3cm. Chuôi dao hình trụ tròn dài 12,5cm, tại phần trên của chuôi dao và mặt lưỡi dao có bám dính chất màu nâu đỏ;
- 01(một) hòn đá kích thước (16 x 8,5 x 06)cm, có nhiều vết màu nâu đỏ.
Đồng thời, thu 06 dấu vết máu ở hiện trường tại các vị trí khác nhau (niêm phong đánh số từ 01 đến 06), thu mẫu máu của Trung và H để giám định.
Tại bản kết luận giám định số 575/PC09-SH ngày 15/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: “- Mẫu máu thu của Nguyễn Văn H thuộc nhóm máu B, của Tạ Quang Trung thuộc nhóm máu O.
- Trên dao loại dao dựa bằng kim loại, màu đen, loại một lưỡi sắc, đầu bằng. Phần lưỡi dài 24.5cm, bản rộng 7.3cm, chuôi hình trụ tròn dài 12,5cm có dính máu người thuộc nhóm máu O.
- Trên hòn đá có KT(16 x 8.5 x 06)cm có dính máu người, thuộc nhóm máu B.
- Dấu vết thu tại hiện trường niêm phong trong phong bì được ký hiệu mẫu số 1, 2, 3, 4 và 5 là máu người, do lượng dấu vết ít nên không xác định được nhóm máu.
- Dấu vết thu tại hiện trường được niêm phong trong phong bì ký hiệu mẫu số 6 là máu người thuộc nhóm máu B.
Tại bản kết luận giám định số 446/C09-TT1 ngày 19/01/2021 của Viện khoa học hình sự - Bộ công an kết luận thương tích của Nguyễn Văn H:“Đối chiếu với Bảng 1 - Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, Áp dụng Nguyên tắc 1,2 và Mục I.1, Chương 8, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với sẹo vùng trán trái, kích thước nhỏ của ông Nguyễn Văn H tại thời điểm giám định là 03% (ba phần trăm). Tổn thương vùng trán trái do vật tày gây ra.”
Tại bản kết luận giám định số 444/C09-TT1 ngày 29/01/2021 của Viện khoa học hình sự - Bộ công an kết luận thương tích của Tạ Quang Trung: “Đối chiếu với Bảng 1- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với các thương tích như sau:
- Sẹo mặt sau- ngoài 1/3 giữa cẳng tay trái: 02% (áp dụng Nguyên tắc 1 và Mục I.2, Chương 8).
- Sẹo mặt sau 1/3 giữa cẳng tay trái: 02% (Nguyên tắc 1và Mục I.2,Chương 8)
- Sẹo phẫu thuật mặt sau - trong 2/3 dưới cẳng tay trái: 02% (áp dụng Nguyên tắc 1 và Mục I.2, Chương 8).
- Sẹo mặt trước - trong 1/3 trên cẳng chân trái: 02% (áp dụng Nguyên tắc 1 và Mục I.2, Chương 8).
- Gãy 1/3 giữa xương trụ cẳng tay trái, đang can liền, thẳng trục, còn phương tiện kết xương, chức năng cẳng tay không bị ảnh H: 06% (áp dụng Mục IV.10.1, Chương 7).
- Mẻ 1/3 dưới xương quay tay trái: 01% (Nguyên tắc chung 1, Chương 7)
- Mẻ 1/3 trên xương chày cẳng chân trái: 01%(Nguyên tắc chung 1,Chương 7)
- Tổn thương không hoàn toàn thần kinh trụ cẳng tay trái: 21% (áp dụng Mục VII.3.18, Chương 1).
Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Tạ Quang Trung tại thời điểm giám định là: 33% (ba mươi ba phần trăm).
Các tổn thương trên cơ thể của ông Tạ Quang Trung do vật sắc gây ra.”
Qúa trình điều tra, vợ chồng H và vợ chồng Trung đã thống nhất và giao nhận tổng số tiền H bồi thường thương tích cho Trung là 30.000.000 đồng; đồng thời, H có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Trung và không yêu cầu Trung phải bồi thường trách nhiệm dân sự.
Bản cáo trạng số 42/CT-VKS-UH ngày 28/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa truy tố Nguyễn Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” qui định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự (Viết tắt: BLHS).
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng: điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của BLHS, xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù, thời điểm chấp hành tính từ ngày bắt thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Qúa trình điều tra các bên đã thỏa thuận và bồi thường xong, tại phiên tòa không có yêu cầu, đề nhị gì khác nên không đặt ra xem xét. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao và 01 hòn đá là vật chứng vụ án. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự.
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng, tỏ ra ăn năn hối hận, có lời xin lỗi bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử (Viết tắt: HĐXX) giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo tại địa phương; đồng thời, vẫn giữ nguyên quan điểm về việc do mình gây thương tích cho Trung nặng hơn nên không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự và bồi thường thương tích mà Trung đã gây ra đối với mình.
- Người bị hại xác nhận diễn biến sự việc như nội dung cáo trạng đã nêu, xác nhận việc bồi thường đã giải quyết xong, nay không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Về trách nhiệm hình sự đề nghị HĐXX giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhưng phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (Bà Năm, bà Mùa) và người làm chứng có mặt đều xác nhận sự việc như cáo trạng đã nêu và xác nhận việc tự nguyện bồi thường giữa hai gia đình đã giải quyết xong.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Việc thực hiện và áp dụng pháp luật: Qúa trình tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đều thực hiện đúng, đầy đủ các qui định của pháp luật.
Qúa trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định thương tích, kết luận giám định mẫu máu có tại vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, HĐXX có đủ căn cứ xác định: Do mâu thuẫn từ việc tháo, đắp nước tại cống Cửa Đình thôn Đống Long, xã Hòa Lâm, huyện Ứng Hòa nên giữa Nguyễn Văn H và Tạ Quang Trung đã xảy ra xô sát cãi chửi nhau, rồi đánh nhau. Từ việc Trung cầm một hòn đá đập một phát trúng vào trán bên trái của H làm chảy máu nên H đã chạy về chỗ để xe máy cầm dao chạy đến chém Trung trúng 02 nhát vào tay trái và 01 nhát vào chân trái. Hậu quả, Trung bị thương tích tổn hại 33% sức khỏe, H bị thương tích tổn hại 03% sức khỏe.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây bức xúc, bất bình trong cộng đồng dân cư, ảnh H an ninh trật tự địa phương. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi nhưng cố ý thực hiện. Với hành vi dùng dao gây thương tích cho người khác bị coi là “Dùng hung khí nguy hiểm”; với số % thương tích của người bị hại. Đối chiếu với qui định của pháp luật thì Nguyễn Văn H đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” qui định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của BLHS.
Xem xét nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội và lỗi của các bên thấy: Do có mâu thuẫn từ trước liên quan đến anh em giữa hai gia đình chưa được giải tỏa nên chỉ từ một việc đơn giản là tháo và chặn dòng nước chảy dẫn đến việc xô sát, gây thương tích cho nhau. Xét về thẩm quyền việc chặn (đắp) và tháo nước ở khu vực này là của Ban thủy nông và Hợp tác xã nông nghiệp thôn Đống Long nhằm điều tiết nước để phù hợp với thời tiết và mùa màng; việc tháo nước trước đó của Trung và việc đắp để hạn chế dòng nước chảy của H đều nhằm mục đích cá nhân trong công việc chăn nuôi của gia đình mình. Lẽ ra, khi tháo hoặc đắp các bên đều phải báo, xin ý kiến người có trách nhiệm và chỉ được thực hiện khi cho phép, nhưng các bên không làm vậy mà đều tự ý làm theo nhu cầu cá nhân là không đúng; khi xảy ra tranh chấp thì các bên phải báo chính quyền giải quyết nhưng các bên cũng không làm vậy mà tự giải quyết bằng việc chửi bới rồi đánh nhau là vi phạm pháp luật. Lẽ ra, nếu không đồng ý việc H đắp chặn cống nước chảy thì Trung phải lựa chọn xử sự khác, phải đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết, nhưng Trung lại không làm vậy; quá trình xô sát lại dùng hòn đá lớn đập vào trán bị cáo gây choáng và chảy máu làm cho H có phần bức xúc, tinh thần có phần bị kích động. Như vậy, người bị hại cũng có một phần lỗi, là nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo dùng dao gây thương tích cho bị hại. Bị cáo không cố ý tước đoạt tính mạng của người bị hại, mà chỉ bột phát, nhất thời gây thương tích cho bị hại do bức xúc, không kiềm chế được bản thân, tinh thần có phần bị kích động từ lỗi của người bị hại dẫn đến việc phạm tội.
Bởi vậy, cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, đã thỏa thuận bồi thường xong về trách nhiệm dân sự để khắc phục hậu quả cho người bị hại nên được H các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm dân sự qui định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của BLHS; mặt khác, xét phía người bị hại cũng có một phần lỗi nên cho bị cáo được H tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại khoản 2 Điều 52 của BLHS.
Xem xét về nhân thân, mối quan hệ giữa bị cáo và bị hại thấy: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; một phần, do mâu thuẫn từ trước giữa hai gia đình chưa được hóa giải, nay lại nhận thức cho rằng bị hại không có quyền ngăn cản việc làm của mình… một phần cũng là do trình độ văn hóa thấp, nhận thức có phần hạn chế nên hành vi, xử sự có tính nhất thời, bột phát. Sau khi sự việc xảy ra các bên đã nhận thức được lỗi của mình, với mối quan hệ gia đình là anh em (con cô con cậu);
Căn cứ tính chất của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, thái độ ăn năn hối cải của bị cáo, mối quan hệ giữa bị cáo và bị hại; một phần lỗi của người bị hại; xét việc bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, sức khỏe không tốt, đã gần 60 tuổi; trình độ văn hóa thấp, hành vi phạm tội chỉ là bột phát nhất thời, do bức xúc, không kiềm chế được bản thân; bị cáo có đơn xin giảm nhẹ hình phạt được chính quyền địa phương xác nhận nên HĐXX thấy có thể áp dụng Điều 54 của BLHS cho bị cáo H hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật hình sự và chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước đối với người phạm tội.
Đối với Tạ Quang Trung đã có hành vi cầm hòn đá đập vào phần trán trái của H gây thương tích tổn hại 03% sức khỏe. Đối chiếu với qui định của pháp luật hình sự thì hành vi của Trung cũng bị coi là “dùng hung khí nguy hiểm”, đủ căn cứ để khởi tố, truy tố theo qui định tại điểm a khoản 1Điều 134 của BLHS; tuy nhiên, do mức độ thương tích ít; mặt khác, quan hệ giữa H và Trung là anh em, H đã nhận thức được sai phạm của mình gây ra đã làm tổn hại nhiều cho sức khỏe của Trung nên H không yêu cầu xử lý Trung theo pháp luật hình sự, đồng thời cũng không yêu cầu Trung phải bồi thường trách nhiệm dân sự về thương tích đã gây ra đối với mình. Do vậy, cơ quan điều tra không xử lý hình sự mà xử lý hành chính đối Trung là phù hợp. Tại phiên tòa cả H và Trung đều không có ý kiến, đề nghị gì khác nên HĐXX không xét.
Về trách nhiệm dân sự: Qúa trình điều tra bị cáo và gia đình (người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: bà Mùa) đã thỏa thuận bồi thường trách nhiệm dân sự cho bị hại tổng số tiền các khoản chi phí là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng). Bị hại và gia đình (người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: bà Năm) đã nhận đủ số tiền này và không có ý kiến, đề nghị gì khác nên HĐXX xác nhận việc bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại về trách nhiệm bồi thường dân sự.
Về vật chứng: con dao và hòn đá là công cụ phạm tội cần tịch tiêu hủy.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật. Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.
V× c¸c lÏ trªn,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt Nguyễn Văn H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xác nhận việc bị cáo và gia đình đã bồi thường xong về trách nhiệm dân sự cho bị hại số tiền là 30.000.000đồng (Ba mươi triệu đồng), người bị hại và gia đình đã nhận đủ số tiền này và không có yêu cầu, đề nghị gì khác.
Xác nhận việc bị cáo không yêu cầu khởi tố hình sự và không yêu cầu bị hại phải bồi thường trách nhiệm dân sự đối với thương tích đã gây ra cho mình.
Tịch thu tiêu hủy 01 con dao và 01 hòn đá có tình trạng, đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Ứng Hòa với Chi cục THADS huyện Ứng Hòa ngày 05/7/2021.
Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo nội dung liên quan đến quyền lợi của chính mình)./.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - CA, VKS, THADS H.Ứng Hoà; - Bị cáo, Người bị hại; - Người có QLNVLQ; - Lưu HS, VP./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Kiến |